|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 4 năm 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Ngân; ông Huỳnh Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QD9ST-DS ngày 29/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ánh T, sinh năm 1992; địa chỉ: số C, đường V, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
- Bị đơn: Ông Lý Vũ L, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bà Lê Thị Ánh T trình bày:
Bà T và ông L tiến đến hôn nhân và chung sống vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 24, ngày 24/02/2021. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, xảy ra mâu thuẫn giữa ông L và em trai bà T không thể giải quyết được, cả hai không còn chung sống từ ngày 28/4/2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không kéo dài được nên bà T yêu cầu ly hôn ông L.
Về con chung, quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Lý Kim L1, sinh ngày 12/6/2021, hiện đang sống cùng bà T, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có.
Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng, cứ hòa giải về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung giữa các đương sự nhưng ông L nhiều lần không tham dự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh thể hiện giữa vợ chồng T, L không còn chung sống cùng nhau, hiện ông L vẫn còn thường trú tại địa phương khóm V, phường N, hiện đi làm thuê.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Về hôn nhân của ông L với bà T là do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Bà T cho rằng thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đã không còn chung sống với nhau, hiện mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm lẫn nhau. Nay xin khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông L.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông L nhiều lần vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó cho thấy, việc bà T trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm lẫn nhau là có căn cứ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông L.
Về con chung, xét thấy, con chung tên Lý Kim L1, sinh 12/6/2021, xét con chung còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, từ khi bà gửi đơn kiện đến nay thì con chung đều sống cùng bà T. Do đó, để tạo điều kiện phát triển cho con về mọi mặt thì cho bà T được tiếp tục nuôi dạy con chung là phù hợp quy định pháp luật. Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu nên không đề cập.
Từ phân tích trên, căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T được ly hôn với ông Lý Vũ L. Bà T được nuôi con chung Lý Kim L1 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng
[1] Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn cư trú thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung
[3] Bà Lê Thị Ánh T và ông Lý Vũ L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn 278/HT, quyển số 02/2009, ngày 30/10/2009 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Xét nguyên nhân mâu thuẫn mà bà Lê Thị Ánh T trình bày, ông Lý Vũ L không có ý kiến gì về việc ly hôn, nhiều lần Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do, cho thấy không có thiện chí hàn gắn, níu kéo lại tình cảm vợ chồng mà bỏ mặc vợ con, cả hai mạnh ai nấy sống một thời gian dài, không còn quan tâm nhau nữa. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, bà Lê Thị Ánh T cương quyết ly hôn. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Ánh T như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
[4] Về con chung, vợ chồng có 01 con chung là Lý Kim L1, sinh ngày 12/6/2021, hiện con đang sống với mẹ là bà Lê Thị Ánh T. Xét con chung còn nhỏ, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình, tiếp tục giao con chung cho bà Lê Thị Ánh T nuôi dạy và chăm sóc. Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Bà T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Ánh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
[6] Về án phí: bà Lê Thị Ánh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003160 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, bà T đã nộp đủ án phí. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, Điều 228, và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T.
[1] Về quan hệ hôn nhân, bà Lê Thị Ánh T được ly hôn với ông Lý Vũ L.
[2] Về con chung, bà Lê Thị Ánh T được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Lý Kim L1, sinh 12/6/2021 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Bà T không yêu cầu ông Lý Vũ L cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Lê Thị Ánh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lý Vũ L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm
Bà Lê Thị Ánh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003160 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà T đã nộp đủ án phí. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
[4] Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị Ánh T có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Lý Vũ L là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T và ông L tiến đến hôn nhân và chung sống vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 24, ngày 24/02/2021. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, xảy ra mâu thuẫn giữa ông L và em trai bà T không thể giải quyết được, cả hai không còn chung sống từ ngày 28/4/2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không kéo dài được nên bà T yêu cầu ly hôn ông L. Về con chung, quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Lý Kim L1, sinh ngày 12/6/2021, hiện đang sống cùng bà T, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có.
