Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Phường.
  • Các hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thủy và ông Lê Văn Vững.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

  • - Đào Văn H, sinh năm: 1987 tại Đồng Tháp; Đăng ký HKTT: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Cha tên: Đào Văn Bé B, sinh năm 1956 (Đã Chết); Mẹ tên: Trương Thị Kim C, sinh năm: 1956 (Đã chết); Vợ và con: Không; Tiền sự và tiền án: Không; Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 74/HSPT ngày 22/5/2008, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010 và chấp hành xong nghĩa vụ dân sự trong Bản án ngày 25/9/2008; Bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 229/HSPT ngày 19/10/2011, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/10/2013 và chấp hành xong nghĩa vụ dân sự trong Bản án ngày 28/5/2012; Bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 236/HSPT ngày 14/8/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2017 và chấp hành xong nghĩa vụ dân sự trong Bản án ngày 08/6/2015; Tạm giữ: Từ ngày 17/8/2023 đến ngày 26/8/2023; Tạm giam: Từ ngày 22/11/2023; Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
  • Chị Đào Thị Kim C1, sinh năm 1977;
  • Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị H1, Văn phòng L - Chi nhánh C3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
  • - Bị hại: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1985;
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1973;
  • Địa chỉ: Số D, đường số G, khu phố D, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Người làm chứng: Chị Trần Thị Tố N, sinh năm 1978;
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Bị cáo H, chị C1 và luật sư H1 có mặt; Anh P vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh M và chị N vắng không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 17/8/2023, bị cáo đi bộ trên tuyến đường nhựa nông thôn dọc theo bờ đông kênh Nguyễn Văn T A hướng từ thị trấn M đi xã M thuộc huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến nhà của ông Nguyễn Văn H2 tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo nhìn thấy xe mô tô biển số 52X5 - 3919 trị giá 2.500.000 đồng (Theo Kết luận định giá số 32/KLĐG ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T) của anh P để sát vách nhà của ông H2, cặp lề đường trên xe có gắn sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm. Lúc này, bị cáo đi xung quanh quan sát, thấy không có người trông giữ, bị cáo liền lén lút đến vị trí xe đang dựng, dùng hai tay cầm vào tay lái xe rồi dẫn xe ra lộ. Khi quay đầu xe ra đường, dịch chuyển một đoạn khoảng 1m, chưa kịp lên xe nổ máy thì bị lực lượng tuần tra của Công an xã M phát hiện, bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng là xe mô tô biển số 52X5 - 3919. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ và xử lý vật chứng như sau:

  • - Xe mô tô biển số 52X5 - 3919 của anh P đã trao trả cho chủ sở hữu.
  • - Đĩa DVD chứa đoạn video thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo do camera giám sát tại hiện trường ghi lại.
  • - 01 chiếc nón vải có vành bo màu đen; 01 chiếc áo dài tay, màu nâu đen; 01 chiếc quần sọt jean màu xanh là trang phục của bị cáo mặc khi phạm tội.

Kết luận giám định số 1158/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Dữ liệu video thu giữ từ camera tại hiện trường không bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh”.

Kết luận giám định số 508/2023/KLGĐ ngày 25/12/2023 của Trung tâm P1 đối với giám định tâm thần và Công văn số: 508.0/PYTT ngày 25/12/2023 của Trung tâm P1 đối với Đào Văn H kết luận:

  • - Về y học: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ án (Ngày 17/8/2023) và hiện tại: “Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần (F19.71-ICD10)”.
  • - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: “Tại thời điểm xảy ra vụ án (Ngày 17/8/2023) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
  • - Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm xảy ra vụ án (Ngày 17/8/2023) và hiện tại: “Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự”.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Anh P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSTM ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H với mức án từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo H thuộc diện hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
  • - Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Ý kiến và đề nghị của luật sư H1: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo tự ý nữa chừng chấm dứt phạm tội và chưa lấy được chiếc xe nên cần áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 57 của Bộ luật hình sự cho bị cáo. Đồng thời, theo kết luận giám định thì bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở

mức thấp theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Ý kiến của chị C1: Chị là chị ruột của bị cáo, cha và mẹ của chị đều đã chết, bị cáo không có vợ, con gì nên bị cáo sống với chị. Khi sống chung chị không biết bị cáo có sử dụng ma túy hay không, bình thường bị cáo ăn xong rồi thì đi ra khỏi nhà không có phụ giúp gì cho chị. Bị cáo vẫn nhận thức bình thường có hơi chậm so với người bình thường, bị cáo cũng từng đi điều trị tâm thần tại Bệnh viện tâm thần Đồng Tháp nhưng do không tiền nên ngưng về nhà tự điều trị. Đối với việc bị cáo đi trộm cắp tài sản trong vụ án này thì chị không biết. Đối với việc bị cáo bị xét xử thì chị thống nhất và không có ý kiến gì. Đối với vụ án này chị không có yêu cầu gì. Ngoài ra, chị không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

Ý kiến của anh P: Theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08/5/2024 thì anh P trình bày là đã nhận lại tài sản trong vụ án này, anh P không còn yêu cầu gì và xin được vắng mặt các phiên tòa xét xử các cấp.

Đối với anh M và chị N mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng những người này vắng mặt không có lý do. Đồng thời, những người này cũng không có gửi cho Tòa án văn bản ý kiến gì nên tại giai đoạn xét xử sơ thẩm không ghi nhận ý kiến của những người này.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Theo danh sách yêu cầu triệu tập người tham gia tố tụng đến phiên tòa của Viện kiểm sát và quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thì xác định chị C1 là người làm chứng. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xác định lại chị C1 tham gia với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị cáo. Xét thấy, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, cha và mẹ của bị cáo đều đã chết, bị cáo không có vợ, con gì nên việc xác định chị C1 là chị ruột và đang sống chung nhà với bị cáo là người đại diện hợp pháp của bị cáo là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị C1 tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị cáo.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 13/CT-VKSTM ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười. Tuy nhiên, qua quá trình điều tra, truy tố và xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm đã chứng minh vào chiều ngày 17/8/2023, bị cáo chính là người thực hiện hành vi dịch chuyển chiếc xe mô tô biển số 52X5 - 3919 của anh P đang đậu sát vách nhà ra tới vị trí gần giữa đường, do xe bị kẹt số nên bị cáo trả số lại và chuẩn bị quay xe chạy đi thì bị lực lượng Công an đang tuần tra phát hiện. Đồng thời, chính người bào chữa cho bị cáo cũng thống nhất hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, có đủ cơ sở xác định chính bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại nên đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô biển số 52X5 - 3919 của anh P vào khoảng hơn 15 giờ 00 phút, ngày 17/8/2023 tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

[3] Những tình tiết chứng cứ nêu trên phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[5] Đối với hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của bị hại một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo đã từng 03 lần bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng nay vẫn thực hiện hành vi trên chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, bị cáo muốn nhanh chóng có tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân của bản thân mà khỏi phải tốn mồ hôi và công sức lao động như bao nhiêu người lao động lương thiện trong xã hội nên bị cáo đã chủ động tìm sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại, để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của họ, trong vụ án này bị cáo đã thực hiện tội phạm vì động cơ tư lợi, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Với hành vi nêu trên, xét thấy cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội sau này, đồng thời đấu tranh phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại phiên tòa sơ thẩm, luật sư H1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, theo Kết luận giám định số 508/2023/KLGĐ ngày 25/12/2023 của Trung tâm P1 đối với giám định tâm thần và Công văn số: 508.0/PYTT ngày 25/12/2023 của Trung tâm P1 đối với Đào Văn H kết luận:

  • “- Về y học: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ án (Ngày 17/8/2023) và hiện tại: “Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần (F19.71-ICD10)”.
  • - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: “Tại thời điểm xảy ra vụ án (Ngày 17/8/2023) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”

Như vậy, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần (F19.71-ICD10) chứ không phải là bệnh như quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là có thật nên cần xem xét áp dụng giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần đề nghị này của luật sư H1.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, luật sư H1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 57 của Bộ luật hình sự cho bị cáo, vì bị cáo đã tự ý nữa chừng chấm dứt việc lấy chiếc xe của bị hại. Xét thấy, bị cáo đã dịch chuyển chiếc xe của bị hại đang đậu sát vách nhà ra tới vị trí gần giữa đường, do xe bị kẹt số nên bị cáo trả số lại và chuẩn bị quay xe chạy đi thì bị lực lượng Công an đang tuần tra phát hiện, khi thấy Công an thì bị cáo mới bỏ chiếc xe lại xuống đi bộ. Như vậy, có đủ cơ sở xác định bị cáo đã lấy được chiếc xe của bị hại và việc bị cáo không tiếp tục điều khiển xe chạy đi là do bị Công an phát hiện chứ bị cáo không có tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của luật sư H1.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và bị hại không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 chiếc nón vải có vành bo màu đen, 01 chiếc áo tay dài màu nâu đen và 01 chiếc quần sọt Jean màu xanh. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo và không có liên quan đến vụ án này nên cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 đĩa DVD chứa đoạn video thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo do C2 giám sát tại hiện trường ghi lại. Đây là chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lưu hồ sơ.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có yêu cầu xin miễn nộp tiền án phí. Xét thấy, bị cáo thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[12] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười. Xét thấy, từ những phân tích như trên xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo. Xét thấy, từ những phân tích như trên xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ 01 phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần. Phần không được chấp nhận là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 57 của Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 22/11/2023 nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 17/8/2023 đến ngày 26/8/2023.

    - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Trả lại cho bị cáo H 01 chiếc nón vải có vành bo màu đen, 01 chiếc áo tay dài màu nâu đen và 01 chiếc quần sọt Jean màu xanh.
    • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa đoạn video thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo do C2 giám sát tại hiện trường ghi lại.

    (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/3/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo và chị C1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P và anh M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh, Huyện;
  • - TAND Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
  • - CCTHADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP, (Jet).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Phường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger