TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày: 16-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lý
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh
Ông Đào Đình Phúc
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Phượng – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Hoàng T, sinh ngày: 20 tháng 7 năm 1999 tại: Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: số G H, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Lê Văn Q, sinh năm: 1965; con bà: Võ Thị Tuyết M, sinh năm: 1972;
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn.
Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định số 123/QĐ-UBND, ngày 27/7/2018, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 29/10/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023, đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Văn H, sinh năm: 1984. Vắng mặt
2. Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm: 1946. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hoàng T là người nghiện ma túy đá. Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 27/12/2023, T mượn xe đạp điện của chị Nguyễn Thị D đến khu vực xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên mục đích tìm mua ma túy đá để sử dụng. Khi đến khu vực xã Đ, huyện Â, T gặp và mua của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy đá được đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long với số tiền 200.000 đồng. Mua được ma túy đá, T cầm trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe đạp điện hướng về xã N, huyện T. Hồi 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe đạp điện đến đoạn đường B, N - T thuộc địa phận thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương thì dừng xe tìm nơi mua dụng cụ (coóng, bật lửa) để sử dụng ma túy đá thì bị Công an xã N, huyện T phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 vỏ bao thuốc lá T, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. T khai nhận đó là ma túy đá cất giấu để sử dụng. Ngoài ra, thu giữ của T 01 xe đạp điện màu đen không nhãn hiệu, biển kiểm soát. Ngày 28/12/2023, Công an xã N đã giao người bị bắt Lê Hoàng T, chuyển hồ sơ tài liệu và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Kết luận giám định số 57/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Lê Hoàng T, gửi đến giám định khối lượng là: 0,250g, là ma túy, loại Methamphetamine. H1 lại 0,180g Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra xác định xe đạp điện Thông sử dụng đi mua ma túy là tài sản của chị Nguyễn Thị D, chị D không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị D là có căn cứ. Tiếp tục quản lý 0,180g Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS, ngày 13/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo bị về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 13 đến 16 tháng tù.
Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về án phí: buộc bị cáo Lê Hoàng T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến sự việc, lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được pháp luật cấm mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng chỉ vì nhu cầu sử dụng của bản thân mà vào ngày 27/12/2023, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,250g ma túy loại Methamphetamine, khi đến đoạn đường B, N - T thuộc địa phận thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương thì bị Công an xã N, huyện T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba và Huân chương chiến công hạng Ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về quyết định hình phạt:
Bị cáo từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, không những gây ảnh hưởng xấu đến đến tình hình trật tự trị an tại địa phương mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân hình thành các tội phạm khác. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức phạt tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5]. Về vật chứng: 0,180g Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong được niêm phong số 57/KL-KTHS và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long là các vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Quá trình điều tra, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán ma túy cho bị cáo; chị Nguyễn Thị D cho bị cáo mượn xe đạp điện nhưng không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên không có căn cứ xử lý những người này.
[7]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331; 332; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,180g Methamphetamine gói bằng giấy trắng, bên ngoài là túi nilon màu trắng; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư ghi số 57/KL-KTHS; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, kích thước 8x6cm.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, ngày 07/5/2024.).
4. Về án phí: bị cáo Lê Hoàng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương Lý |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 01 năm 02 tháng tù
