|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày 16-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Anh Tuấn.
- Bà Lê Thị Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
MÃ ĐỀ L1
(tên gọi khác: Mã Đề M); sinh ngày 20 tháng 12 năm 1972; tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Mã Đề L (đã chết) và bà Lý Thị P, sinh năm 1946; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ 4; vợ: T1, sinh năm 1987 (đã ly hôn); con: Mã Ngọc T, sinh năm 2010.
- Tiền sự: Không;
- Tiền án:
- Bản án số 26/2013/HSST ngày 26/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" chưa được xóa án tích.
- Bản án số 43/2017/HSST ngày 28/8/2017 Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa áp dụng đoạn 2 điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, xử phạt 03 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" chưa được xóa án tích.
- Bản án số 68/2021/HSST ngày 17/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt 01 năm 02 tháng tù giam về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" chưa được xóa án tích.
- Nhân thân:
- Bản án số 47/HSST ngày 16/9/1994 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Trốn khỏi nơi giam giữ".
- Bản án số 41/HSST ngày 19/9/1997 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
- Ngày 17/01/2003 UBND xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang quyết định về việc đưa người vào cơ sở cai nghiện tại xã với Mã Đề L1 với thời hạn 03 tháng;
- Ngày 24/3/2003 UBND xã N, huyện C Quyết định số 307/QĐ-UB về việc đưa Mã Đề L1 vào cai nghiện ma túy giai đoạn 2 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
- Ngày 31/5/2004 UBND huyện C, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định số 840/QĐ-CT về việc đưa Mã Đề L1 vào cai nghiện ma túy giai đoạn 3 tại huyện C.
- Ngày 25/02/2008 UBND huyện C Quyết định số 116/QĐ-UBND về việc công nhận hoàn thành cai nghiện ma túy.
- Ngày 14/01/2017 UBND xã N, huyện C Quyết định số 04/QĐ- UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Mã Đề L1.
- Ngày 15/01/2017 UBND xã N, huyện C Quyết định số 08/QĐ-UBND quyết định quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 05 phút, ngày 08/01/2024, Mã Đề L1 (đã có tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy") đi bộ từ nhà ở của L1 tại thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đến khu vực nhà máy T2, thuộc thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến nơi L1 mua được 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài là lớp nilon màu đen, tiếp đến là lớp giấy bạc màu vàng của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Mua được Heroine, L1 đi vào khu vực vắng người lấy gói Heroine vừa mua được ra san gạt lấy một ít để sử dụng bằng cách tiêm chích vào cơ thể. Số còn lại, L1 gói lại như cũ cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi vừa đi được khoảng 100 mét thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm vụ, nghi L1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu L1 dừng lại để kiểm tra. Quá trình làm việc L1 đã tự giác giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mã Đề L1 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.
Cùng ngày, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Mã Đề L1, kết quả: (+) Dương tính với chất ma túy.
Kết luận giám định số 129/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Mã Đề L1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,170g (Không phảy một bảy mươi gam).
Cáo trạng số: 16/CT-VKSCH ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Mã Đề L1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Mã Đề L1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, không phát sinh tình tiết mới; Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mã Đề L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mã Đề L1 từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 08/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Mã Đề L1, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Mã Đề L1, giám định ngày 08/01/2024.
- Đối với người đàn ông bán Heroine cho Mã Đề L1 quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mã Đề L1, Công an huyện C đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Mã Đề L1 thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 11 giờ 05 phút, ngày 08/01/2024 tại khu vực nhà máy T2, thuộc thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Mã Đề L1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,170g chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Bị cáo đã bị kết án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tại Bản án số 26/2013/HSST ngày 26/6/2013; Bản án số 43/2017/HSST ngày 28/8/2017; Bản án số 68/2021/HSST ngày 17/9/2021 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nên lần phạm tội này đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị cơ quan chức năng nhiều lần đưa vào cai nghiện tại cơ sở và bị kết án nhiều lần về các tội danh: Bản án số 47/HSST ngày 16/9/1994 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản "và tội Trốn khỏi nơi giam giữ"; Bản án số 41/HSST ngày 19/9/1997 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 17/01/2003 UBND xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang quyết định về việc đưa người vào cơ sở cai nghiện tại xã với Mã Đề L1 với thời hạn 03 tháng; Ngày 24/3/2003 UBND xã N, huyện C Quyết định số 307/QĐ-UB về việc đưa Mã Đề L1 vào cai nghiện ma túy giai đoạn 2 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang.; Ngày 31/5/2004 UBND huyện C, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định số 840/QĐ-CT về việc đưa Mã Đề L1 vào cai nghiện ma túy giai đoạn 3 tại huyện C; Ngày 14/01/2017 UBND xã N, huyện C Quyết định số 04/QĐ- UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Mã Đề L1; Ngày 15/01/2017 UBND xã N, huyện C Quyết định số 08/QĐ-UBND quyết định quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình. Sau nhiều lần chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ và cai nghiện nhưng bị cáo không nỗ lực, rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng nội dung buộc tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai. Do vậy, căn cứ Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung, xử phạt bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích vụ lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Số ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Mã Đề L1, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, mặt trước ghi tang vật vụ Mã Đề L1, giám định ngày 08/01/2024 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Vấn đề khác:
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Mã Đề L1, do không xác định được họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mã Đề L1, ngày 02/4/2024 Công an huyện C đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[8]. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Mã Đề L1 thuộc diện hộ nghèo, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mã Đề L1 (tên gọi khác Mã Đề M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mã Đề L1 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/01/2024.
- - Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Mã Đề L1, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Mã Đề L1, giám định ngày 08/01/2024.
Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.
- - Về án phí: Bị cáo Mã Đề L1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Huệ |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 19 Ma Đề L pham tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy)
