Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Lệ Thi, bà Võ Thị Thanh Phương.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 436/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QÐST - DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa:

  • - Nguyên đơn: Bà La Thị Thùy T, sinh năm 1992, nơi cư trú: tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Đoàn Thế H, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà La Thị Thùy T trình bày: Bà T và ông H tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã C (nay là thành phố C). Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống cùng với cha mẹ bà T tại tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Khoảng năm 2010, trong thời gian bà T mang thai thì vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông H thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình, đến khi bà T sinh cháu Đoàn Thế D thì ông H kêu về nhà mẹ ông H tại tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang để sinh sống (cha ông H đã chết) nhưng bà T không đồng ý nên ông H dọn về một mình, từ đó vợ chồng càng thêm mâu thuẫn và đến khoảng đầu năm 2011, bà T đi làm thuê ở P thì vợ chồng đã không còn sống chung và không còn liên hệ cho đến nay. Hôn nhân không hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà T và ông H có 01 con chung tên Đoàn Thế D, sinh ngày 26/5/2010, hiện nay đang sống cùng với bà T. Bà T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông H nhưng ông H không cung cấp lời khai và không đến Tòa án để tham gia hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên xem như từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình và thuộc trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Giữa bà T và ông H có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Bà T, ông H xảy ra mâu thuẫn, không còn sống chung với nhau, vợ chồng không chủ động hàn gắn tình cảm, cũng như quá trình hòa giải của Tòa án, ông H mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia, thể hiện không thiện chí hàn gắn tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà T yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Bà T yêu cầu được nuôi con chung tên Đoàn Thế D, sinh ngày 26/5/2010 và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung cũng như xem xét nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ nên việc giao con chung cho bà T nuôi dạy là phù hợp, ghi nhận sự tự nguyện của bà T, về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà La Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Thế H. Bị đơn ông H có nơi cư trú tại tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà T có yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H có đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 98/HT, quyển 01/2010, ngày 12/5/2010 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo lời khai của bà T nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông H thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình và vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2011 cho đến nay.

Qua xác minh tại Văn phòng khóm C, phường C và Công an phường C được biết: Ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ B, khóm C, phường C, thành phố C nhưng đã bỏ địa phương đi và vợ chồng bà T, ông H đã không còn chung sống từ rất lâu.

Xét thấy, giữa bà T, ông H phát sinh mâu thuẫn là có thật, thời gian xa cách đã lâu nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được tình cảm, đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mỗi người điều có cuộc sống riêng. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa bà T, ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc ly hôn với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  1. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà T ông H có 01 con chung tên Đoàn Thế D, sinh ngày 26/5/2010 đang sống cùng bà T. Xét thấy, bà T có yêu cầu được nuôi con và phù hợp với nguyện vọng của cháu D nên để ổn định môi trường sống cũng như sinh hoạt của con chung, Hội đồng xét xử xét quyết định giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dạy cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động.
  2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà T.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có nên không đề cập để xem xét giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà La Thị Thùy T.

  1. Về hôn nhân: Bà La Thị Thùy T được ly hôn với ông Đoàn Thế H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 98/HT, quyển 01/2010, ngày 12/5/2010 của Ủy ban nhân dân phường C, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

  1. Về con chung: Bà La Thị Thùy T được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Đoàn Thế D, sinh ngày 26/5/2010, cho đến khi trường thành và có khả năng lao động. Ông Đoàn Thế H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà La Thị Thùy T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Đoàn Thế H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà La Thị Thùy T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003122 ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, bà T đã nộp đủ án phí.

Ông Đoàn Thế H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bà La Thị Thùy T và ông Đoàn Thế H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger