Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Xanh;

Ông Đoàn Xuân Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T; sinh năm 1991; nơi thường trú: Thôn H, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: Số phòng 30323 Chung cư Công ty cổ phần T1, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Deng Z; sinh năm 1980; nơi thường trú: Số nhà A, tòa nhà A, V, Na Minh Đ, thôn N, thị trấn H, huyện N, khu tự trị dân tộc Choang, Q, Trung Quốc; nơi tạm trú: Số phòng 30323 Chung cư Công ty cổ phần T1, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Trung Quốc: bà Nguyễn Thu H, Trung tâm tiếng Trung QTEDU cơ sở H1; địa chỉ: số A Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh D ZeSheng đăng ký kết hôn ngày 14/3/2014 tại Trung Quốc. Mấy năm đầu sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng nhiều năm trở lại đây, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, luôn bất đồng quan điểm sống, không thể hàn gắn được, tình cảm với nhau không còn. Nguyên nhân là do anh Deng Z không quan tâm đến gia đình, không yêu thương vợ con, nhiều lần xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và đánh đập chị T thậm tệ, dã man. Đến nay, vợ chồng đã sống ly thân 05 năm, không còn chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Do vậy, đời sống hôn nhân rơi vào mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bỏ mặc nhau sống ra sao thì sống, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh D ZeSheng.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Deng Shi F, sinh ngày 20/4/2015. Hiện nay con chung đang ở cùng với chị T, khi ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T được trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Chị T không yêu cầu anh D ZeSheng phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, vay nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai đề ngày 23/01/2024 của anh D ZeSheng thể hiện: anh và chị T đăng ký kết hôn tại thành phố S, Q, Trung Quốc năm 2014 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng sống xa nhau trong những năm C, vợ chồng không có thời gian nói chuyện, tâm sự với nhau nên tình cảm chị T phai nhạt. Anh D ZeSheng cũng đã nói chuyện với chị T để sửa sai, tìm cách khắc phục nhưng mâu thuẫn chưa được giải quyết, hai bên gia đình đã tìm cách hòa giải nhưng chưa có kết quả, vợ chồng sống ly thân khoảng 01 năm nay. Anh D ZeSheng nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng nên anh không đồng ý yêu cầu ly hôn của chị T.

Tại Biên bản lấy lời khai của anh D ZeSheng ngày 08/4/2024 thể hiện: anh D ZeSheng thay đổi quan điểm đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T là đến nay anh nhận thấy hai vợ chồng không thể chung sống cùng nhau nữa, không có khả năng hàn gắn tình cảm nên anh đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Deng Shi F, sinh ngày 20/4/2015. Anh D ZeSheng yêu cầu nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giao con chung cho chị Nguyễn Thị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: anh D ZeSheng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai, nguyện vọng của cháu D Shi Fang Yi, sinh ngày 20/4/2015 thể hiện: có nguyện vọng được ở cùng với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung: đại diện VKS đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh D ZeSheng. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Deng Shi Fang Y, sinh ngày 20/4/2015, cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung”; bị đơn anh D ZeSheng có quốc tịch và có địa chỉ cư trú tại Trung Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T và anh D ZeSheng đăng ký kết hôn ngày 14/3/2014 tại Trung Quốc và đã được ghi vào sổ đăng ký kết hôn số: 251, quyển số 01/2015 ngày 30/9/2015 tại Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Những năm đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không có khả năng hàn gắn, hòa giải. Xét thấy chị T và anh D ZeSheng đều xác định vợ chồng không thể chung sống cùng nhau nữa. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và giải quyết cho chị T được ly hôn với anh D ZeSheng.

[3] Về con chung: chị T và anh D ZeSheng có 01 con chung là Deng Shi Fang Yi, sinh ngày 20/4/2015, hiện nay con chung đang ở cùng với chị T nên khi Tòa án giải quyết cho chị T và anh D ZeSheng ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa, anh D ZeSheng không đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Xét thấy quan điểm của chị T về việc nuôi con chung sau khi ly hôn là phù hợp với điều kiện của chị T cũng như môi trường sống và nguyện vọng của cháu Deng S Fang Yi nên chấp nhận việc giao con chung là cháu Deng S Fang Yi cho chị T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh D ZeSheng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Không chấp nhận yêu cầu của anh D ZeSheng về việc giao con chung cho anh D ZeSheng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị T có quan điểm không yêu cầu anh D ZeSheng phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung giữa chị T và anh D ZeSheng đều khai tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: nguyên đơn chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh D ZeSheng.
  2. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Deng Shi Fang Y, sinh ngày 20/4/2015, cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
  3. Sau khi ly hôn, anh D ZeSheng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh D ZeSheng lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Nguyễn Thị T không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh D ZeSheng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005737 ngày 12/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh D ZeSheng có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Deng Z
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger