Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 19/2024/HSST

Ngày 15-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG - TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Lực
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Dung.
  • Ông Nguyễn Ngọc Châu
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thiên Hùng -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long tỉnh Bình Phước.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Phong – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Anh T (tên gọi khác: Chín C) Giới tính: Nam, sinh ngày 13 tháng 03 năm 1990 tại Bình Phước; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ D, ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo không; trình độ học vấn 06/12; nghề nghiệp: Làm thuê. Cha: Lê Văn D, sinh năm 1951 (đã chết), mẹ: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1955 (đã chết); sống như vợ chồng với chị Châu Mỹ P, sinh năm 1995, có 01 người con sinh năm 2018.

Tiền án: 05 tiền án;

  • Ngày 14/6/2010, Toà án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 10/8/2011 chấp hành xong hình phạt tù.
  • Ngày 30/9/2014, Toà án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 13/4/2016 chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa đóng án phí.
  • Ngày 11/7/2018, Toà án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 07/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù.
  • Ngày 03/3/2020, Toà án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 04/10/2020 chấp hành xong hình phạt tù.
  • Ngày 28/12/2021, Toà án nhân dân huyện Hớn Quản xử phạt 14 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 17/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

Ngày 21/4/2008, bị Toà án nhân dân huyện Bình Long xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng, (lúc này bị cáo chưa đủ 18 tuổi) đến ngày 18/02/2016 được xét duyệt giảm án phí.

Ngày 23/11/2019, bị Công an huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt hành chính 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. T chưa chấp hành nhưng đã hết thời hiệu thi hành theo Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/11/2023 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

  • Lê Văn D1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

- Người chứng kiến:

  • + Lê Văn H, sinh năm 1986; nơi đăng ký HKTT: Tổ C, ấp P, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
  • + Vàng Trung Nam, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 18/01/2023, Lê Văn D1 cùng với 04 người bạn tên C1, H1, Q và T1 (không rõ nhân thân) đến quán thịt chó “V" trên đường Đ thuộc phường A, thị xã B ngồi ăn và uống rượu thì D1 đi sang mời rượu người quen là Lê Anh T (Chín chùa) ngồi bàn gần đó cùng với Vàng Trung N và 01 người tên T2 (không rõ nhân thân) thì D1 và N xảy ra cãi nhau. Sau đó D1 đến quán vịt quay của anh Lê Văn H tại khu vực chợ B thuộc tổ C, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Một lúc sau Vàng Trung N, Lê Anh T và T2 đến quán anh H mua vịt. T2, Lê Tuấn A đứng bên ngoài còn N vào trong quán ngồi chờ lấy vịt và tiếp tục cãi nhau với D1. D1 điều khiển xe mô tô chạy ra khỏi quán đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì quay lại lấy 01 vỏ chai rượu bằng nhựa trên bàn đánh trúng đầu của N thì N bỏ chạy, D1 đuổi theo khoảng 03-04 mét nhưng không đuổi kịp. Lúc này, Lê Tuấn A đang đứng cách đó khoảng 20 mét nhìn thấy nên đi bộ lại gần N đang đứng phía trước quán và T lấy con dao bầu bằng kim loại dài 35cm có cán bằng gỗ dài 13cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm, bản rộng nhất 09cm có sẵn trên bàn gần lò quay vịt. Dự lấy cây xiên bằng kim loại (cây ba chảng), dài 76cm đi về phía T và dùng cây xiên chỉ T thì bị T cầm dao bầu bằng tay trái chém Dự trúng cây xiên làm mũi cây xiên đâm vào bắp tay trái của D1 gây rách da và dao của T chém trúng cẳng tay trái của D1. Anh Vàng Trung N và anh Lê Văn H can ngăn, anh H đưa Lê Văn D1 đến Trung tâm Y tế thị xã B cấp cứu sau đó chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị.

Đến ngày 27/01/2023, Lê Văn D1 làm đơn tố cáo vụ việc với Công an phường A và làm đơn yêu cầu giám định thương tích, yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Nhận được nguồn tin Công an phường A xác minh và xác định hiện trường được anh Lê Văn H giao nộp:

  • - 01 con dao bằng kim loại dài 35 cm, bản rộng 09cm, lưỡi dao dài 22cm, cán bằng gỗ dài 13cm.
  • - 01 cây xiên 03 chảng (bị gãy một bên) bằng kim loại có đầu nhọn, cán hình trụ tổng chiều dài là 76cm, trong đó phần tay cầm dài 15,5cm, chiều dài từ đầu tay cầm đến phần chảng 3 dài 10,5cm, chiều dài phần xiên đến chảng 3 là 50cm.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 766/CN ngày 02/02/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B, ghi nhận Lê Văn D1 vào viện lúc 22 giờ 01 phút ngày 18/01/2023, ra viện lúc 08 giờ 00 phút ngày 21/02/2023 chuẩn đoán: Vết thương cẳng tay trái đứt cơ duỗi ngón II, III, IV, V, cơ duỗi cổ tay trụ, cơ dạng ngón cái dài, gãy hở 01 vỏ xương trụ, xương quay.

Ngày 05/6/2023, Công an phường A chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 199/KLTTCT-TTPY ngày 11/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận thương tích của Lê Văn D1 như sau:

“1. Kết quả giám định:

  • - 02 sẹo 1/3 trước – ngoài cánh tay trái kích thước (3,8x0,5) cm và (2x0,4)cm.
  • - Sẹo dọc sau cẳng tay trái kích thước (5x0,1) cm.
  • - Sẹo 1/3 trên cẳng tay trái (vòng trước ra sau) kích thước 14x0,7)cm.
  • - Hạn chế dạng ngón I.
  • - Hạn chế duỗi ngón I + II và cổ tay.
  • + Kết quả cận lâm sàn:
    • - Mẽ xương 1/3 trên quay trái.
    • - Tổn thương thần kinh quay tay sau.
  • 2. Kết luận:
  • - Các tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc (có thể kèm nhọn) tác động trực tiếp gây nên.
  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y “quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn D1 tại thời điểm giám định là 19% (mười chín phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

Tại biên bản thực nghiệm điều tra ngày 28/12/2023, Lê Anh T và Lê Văn D1 đã mô tả và diễn lại hành vi Lê Văn D1 cầm cây xiên đi đến chỉ Lê Anh T. Lê Anh T cầm dao chém trúng cây xiên thịt lưỡi dao trượt xuống trúng cánh tay trái của Lê Văn D1, kèm theo 01 đĩa CD ghi hình ảnh thực nghiệm.

Trong quá trình điều tra, truy tố Lê Anh T đã khai nhận rõ hành vi dùng dao chém gây thương tích cho Lê Văn D1 vào ngày 18/01/2023.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Lê Anh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố của Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 06 tháng 02 năm 2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Áp dụng pháp luật và hình phạt:

  • Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Anh T mức án từ 03(ba) năm đến 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Trách nhiệm dân sự.

  • Bị hại Lê Văn D1 yêu cầu Lê Anh T bồi thường số tiền 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng. Tại phiên toà bị cáo Lê Anh T chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của bị hại nhưng hiện nay chưa có điều kiện bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận của các bên.
  • Anh Lê Văn H không yêu cầu bị cáo Lê Anh T bồi thường thiệt hại cây xiên bị hư hỏng, nên không xem xét.

Về phần vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, người làm chứng anh V Trung Nam vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có lời khai và biên bản lấy lời khai của họ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới việc xét xử nên căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời phù hợp với vật chứng của vụ án, những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án và được xét hỏi công khai tại phiên tòa nhận thấy: Lê Anh T đã có 05 tiền án chưa được xoá án tích. Khoảng 18 giờ ngày 18/01/2023, tại tổ C, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, do có mâu thuẫn và nhìn thấy Lê Văn D1 dùng chai rượu võ bằng nhựa đánh người quen là Vàng Trung N nên Lê Anh T lấy 01 con dao bầu bằng kim loại còn Lê Văn D1 lấy 01 cây xiên bằng kim loại đi đến gần và chỉ về hướng Lê Anh T. Lê Anh T dùng dao chém gây thương tích vùng cẳng tay trái của Lê Văn D1, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 19% thuộc trường hợp quy định tại điểm a (dùng hung khí nguy hiểm) khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Hơn nữa, bị cáo có 05 tiền án chưa được xoá án tích nên phải chịu trách nhiệm hình sự quy định theo điểm d (tái phạm nguy hiểm) và điểm đ khoản 2 Điều 134 bộ luật Hình sự.

Hành vi trên của bị cáo Lê Anh T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi trực tiếp, bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vẫn cố tình thực hiện, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ, thân thể của người khác là những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Cần xét xử bị cáo một mức án tù có thời hạn theo điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự để bị cáo có thời gian cải tạo trong môi trường có sự quản lý của Nhà nước là cần thiết.

[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu trước đây bị cáo đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản và bị xử phạt hành chính về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về bồi thường thiệt hại:

  • Bị hại Lê Văn D1 yêu cầu Lê Anh T bồi thường số tiền 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng. Tại phiên toà bị cáo Lê Anh T chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của bị hại nhưng hiện nay chưa có điều kiện bồi thường. Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo và người bị hại.
  • Anh Lê Văn H không yêu cầu bị cáo Lê Anh T bồi thường thiệt hại cây xiên bị hư hỏng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • 01 con dao bằng kim loại dài 35 cm, bản rộng 09cm, lưỡi dao dài 22cm, cán dao bằng gỗ dài 13cm.
  • 01 cây xiên 03 chảng (bị gãy một bên) bằng kim loại có đầu nhọn, cán hình trụ tổng chiều dài là 76cm, trong đó phần tay cầm dài 15,5cm, chiều dài từ đầu tay cầm đến phần chảng 3 dài 10,5cm, chiều dài phần xiên đến chảng 3 là 50cm.

Đây là tài sản của anh Lê Văn H giao nộp để phục vụ điều tra nên cần trả lại cho anh Lê Văn H là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi của anh Lê Văn D1 cầm chai nhựa đánh Vàng Trung N nhưng không có thương tích. Ngoài ra Lê Văn D1 còn dùng cây xiên bằng kim loại chỉ Lê Anh T có dấu hiệu của hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng chưa đến mức phải xử lý hình sự, tuy nhiên đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long ban hành kiến nghị sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Anh T phải chịu 1.500.000₫ (một triệu năm trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Lê Anh T (tên gọi khác: Chín C) giới tính: Nam, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  2. Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lê Anh T mức án 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/11/2023.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên: Trả lại cho anh Lê Văn H;

    • - 01 con dao bằng kim loại dài 35 cm, bản rộng 09cm, lưỡi dao dài 22cm, cán bằng gỗ dài 13cm.
    • - 01 cây xiên 03 chảng (bị gãy một bên) bằng kim loại có đầu nhọn, cán hình trụ tròn có tổng chiều dài là 76cm, trong đó phần tay cầm dài 15,5cm, từ đầu tay cầm đến chặng 03 dài 10,5cm, chiều dài phần xiên đến chảng 03 là 50cm, là tài sản cá nhân của anh Lê Văn H giao nộp để phục vụ điều tra.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002814 ngày 23/02/2024 giữa Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long và Công an thị xã B).

  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 bộ luật Dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Lê Anh T bồi thường cho bị hại Lê Văn D1 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);

    Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

    • - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng.
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Anh T phải chịu 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; (2)
  • - VKSND thị xã Bình Long (1)
  • - CSĐT - Công an thị xã Bình Long; (2)
  • - PV 06 Công an tỉnh; (1)
  • - Chi cục Thi hành án DS thị xã Bình Long; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (01)
  • - Nhà giam giữ Công an thị xã Bình Long (1);
  • - Lưu Hồ sơ; Cổng thông tin để công bố; (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Huỳnh Hoàng Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HSST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG - TỈNH BÌNH PHƯỚC về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 19/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG - TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 03 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger