|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 19/2024/HN-ST
Ngày: 15/4/2024
V/v: "Ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Chu Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Đê
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
– Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Tiểu O, sinh năm 1992, địa chỉ: Tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Tuấn A, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024, bản tự khai, nguyên đơn trình bày:
Bà và ông Phạm Tuấn A sau quá trình tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, thời gian đầu, vợ chồng sống cùng gia đình ông Tuấn A, được gia đình hỗ trợ về kinh tế, tinh thần nên vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, đến năm 2018, vợ chồng bà chuyển ra riêng sống thì lúc này, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn xung quanh những sinh hoạt hàng ngày. Ông Tuấn A còn thường xuyên ghen tuông vô cớ, có lúc còn động tay động chân với vợ. Không thể chịu đựng được, bà Tiểu O đã chuyển về nhà mẹ ruột sống, vợ chồng chính thức ly thân từ đó đến nay. Thời gian đầu, ông Tuấn A cũng có động thái để hàn gắn tình cảm, thuyết phục vợ quay về nhưng chỉ được câu trước câu sau đã lại ra tay đánh vợ trước mặt gia đình bà O đã như giọt nước tràn ly khiến vợ chồng không thể còn cơ hội đoàn tụ. Vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2018 đến nay, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng, việc hàn gắn gia đình là không thể nên bà khởi kiện yêu cầu:
Về hôn nhân: Bà Huỳnh Tiểu O yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Tuấn A.
Về con chung: Bà Tiểu O xác định có 01 (một) con chung tên Phạm Hoàng L, sinh ngày 05/10/2010. Bà Tiểu O tự nguyện nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho ông Tuấn A, bà không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tiểu O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Phạm Tuấn A vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như tại các phiên tòa xét xử không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt không ghi nhận được ý kiến. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Ngày 21/02/2024, bà Huỳnh Tiểu O có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn với ông Phạm Tuấn A; bị đơn có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về “tranh chấp ly hôn, con chung”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Tiểu O và ông Phạm Tuấn A chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 10/11/2011 theo Trích lục kết hôn số 46/TLKH-BS do UBND phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp; hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo trình bày của bà Huỳnh Tiểu O, quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn liên quan đến vấn đề cách sống, suy nghĩ, quan điểm về hôn nhân, niềm tin nên vợ chồng xảy ra nhiều xung đột, cãi vã thậm chí xô xát. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay và không thể hàn gắn, đoàn tụ.
Tòa án đã tiến hành mời các bên đến làm việc để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và tạo điều kiện để hòa giải cho vợ chồng ông Tuấn A, bà Tiểu O nhằm mục đích đoàn tụ gia đình nhưng không thể hòa giải được do ông Tuấn A vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ không có lý do, thể hiện ông Tuấn A không có thiện chí đoàn tụ.
Qua xác minh, xác thực vợ chồng bà Tiểu O, ông Tuấn A chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2011 nhưng đến năm 2018, không rõ nguyên nhân vì sao, bà Tiểu O bỏ về nhà mẹ ruột ở tỉnh Long An và từ đó đến nay, vợ chồng không còn chung sống với nhau. Nay bà Tiểu O cương quyết yêu cầu ly hôn, ông Tuấn A không có nguyện vọng níu kéo hôn nhân. Từ đó xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Tiểu O và ông Tuấn A là có thật, không thể hàn gắn và khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu quy định tại Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu ly hôn của bà Tiểu O đối với ông Tuấn A là có cơ sở nên chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Có 01 (một) con chung tên Phạm Hoàng L, sinh ngày 05/10/2010 theo tại Bản sao Giấy khai sinh số 165 quyền số 01/2011 do UBND phường L, thành phố B cấp. Bà Tiểu O nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho ông Tuấn A và không cấp dưỡng cho con.
Xét thấy cháu L hiện đang sống cùng ông Tuấn A và gia đình nội, do ông Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu, giao cháu L cho ông Tuấn A tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Bà Tiểu O không cấp dưỡng cho con, ông Tuấn A không có ý kiến nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Tiểu O phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 227, 228, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tiểu O.
- Về hôn nhân: Bà Huỳnh Tiểu O ly hôn với ông Phạm Tuấn A.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Phạm Hoàng L, sinh ngày 05/10/2010. Giao cháu Phạm Hoàng L cho ông Phạm Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Tiểu O không cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Huỳnh Tiểu O phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001021 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bà Rịa. Như vậy, bà Tiểu O đã thi hành xong án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Thị Thanh Tâm |
Bản án số 19/2024/HN-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về ly hôn
- Số bản án: 19/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mâu thuẫn gia đình, 01 con chung, nhường quyền nuôi con, không cấp dưỡng, không tranh chấp tài sản chung và nợ chung
