Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày: 14-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Thường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bình

2. Ông Nguyễn Tuấn Chiến

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đào Thị N, sinh năm 1972 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Số nhà G, tầng 3, khu tập thể N, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 6/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Ngọc D và bà Ngô Thị T (đều đã chết); Có chồng là Nguyễn Văn T1 (đã chết) và 02 con (con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 107/HSST ngày 17/5/2000, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 07/11/2003. Đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 26/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt

2. Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1980 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế N1 và bà Lương Thị H (đều đã chết); Có vợ là Vũ Thị B, sinh năm 1988 và 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009);

Tiền án: Không;

Tiền sự: Có 01 tiền sự.

Tại Quyết định số 04/QĐ-XP ngày 11/01/2023, Chủ tịch UBND xã H áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 04 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 11/4/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 20/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt

3. Trần Ngọc H1, sinh năm 1984 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Khu G, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Đảng viên Đ (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 28/5/2024); Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1959; Có vợ là Nguyễn Thị Tuyết N2, sinh năm 1991 và 01 con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2022, hủy bỏ tạm giữ từ ngày 20/12/2023. Bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Chử Văn K, sinh năm 1985

Địa chỉ: Khu Đại Hộ, xã Hợp Nhất, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

2. Anh Trần Việt K1, sinh năm 1972

Địa chỉ: Khu Đồng Tâm, thị trấn Đoan Hùng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

3. Chị Nguyễn Vân A1, sinh năm 1992

Địa chỉ: Số nhà G, tầng C, khu tập thể I, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Chị Vân A1 có mặt, anh K, anh K1 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ ngày 16/12/2023, tại khu G, xã S, huyện Đ, tổ công tác phòng chống ma túy - Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Ngọc H1, sinh năm 1984 ở khu G, xã S, huyện Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của H1: 01 gói giấy có đặc điểm được gói ngoài là mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong chứa chất bột, cục màu trắng; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh giấy bạc và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Vsmart lắp hai sim số: 0916.402.555 và 0847.091.555.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành niêm phong gói chứa chất bột, cục màu trắng thu giữ của Trần Ngọc H1 theo quy định và gửi đi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 1591/KL-KTHS ngày 19/12/2023 Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng trong Bì niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,011 gam, loại Heroine (H).

Heroin (hay Heroine, D1): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.”

Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ, H1 khai mua của Nguyễn Thanh T2 sinh năm 1980 ở khu T, xã H, huyện Đ vào ngày 15/12/2023 để sử dụng cho bản thân. Công an huyện Đ triệu tập Nguyễn Thanh T2 làm việc. T2 thừa nhận đã bán ma túy cho H1 như trên.

Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngày 17/12/2023 Công an huyện Đ đã chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Ngọc H1 ở khu G, xã S, huyện Đ và chỗ ở của Nguyễn Thanh T2 ở khu T, xã H, huyện Đ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Tại cơ quan điều tra, H1 khai đã mua ma túy của T2 02 lần vào ngày 30/11/2023 và ngày 15/12/2023. H1 tự khai, trong ngày 30/11/2023, sau khi mua được ma túy của T2, H1 đã 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Chử Văn K, sinh năm 1985 ở khu Đ, xã H, huyện Đ. Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Thanh T2, Chử Văn K làm việc. Quá trình làm việc, K thừa nhận đã 01 lần mua ma túy của H1. T2 thừa nhận đã bán ma túy 02 lần cho H1 như H1 trình bày. Ngoài ra, T2 tự khai, vào ngày 15/12/2023, T2 đã 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Việt K1, sinh năm 1972 ở khu Đ, thị trấn Đ. Nguồn gốc số ma túy T2 bán cho H1 vào ngày 30/11/2023 là T2 mua của một người nam giới không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ, ở xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Nguồn gốc số ma túy T2 bán cho H1 và K1 vào ngày 15/12/2023 là T2 mua của Đào Thị N, sinh năm 1972 ở phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 22/12/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Thị N ở số nhà G, tầng 3, khu tập thể N, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quá trình khám xét, tạm giữ của N:

  • - 05 gói có đặc điểm đều gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen, bên trong là túi nilon màu trắng có một mép hở, bên trong 05 gói đều chứa chất bột, cục màu trắng (Bì niêm phong số 01).
  • - 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có 17 gói có đặc điểm đều gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, bên trong cả 17 gói đều chứa chất bột, cục màu trắng (Bì niêm phong số 02).
  • - 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa 71 gói có đặc điểm đều gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, bên trong 71 gói đều chứa chất bột, cục màu trắng (Bì niêm phong số 03).
  • - 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm, bên trong có chứa 16 gói có đặc điểm đều gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, bên trong 16 gói đều chứa chất bột, cục M1 (Bì niêm phong số 04).

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành niêm phong các gói trên theo quy định và gửi đi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 1639/KL-KTHS ngày 25/12/2023 Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận:

  • “- Chất bột, cục màu trắng chứa trong 05 túi nilon màu trắng, có 01 mép hở, bên ngoài mỗi túi đều được gói bằng nilon màu đen trong Bì niêm phong số 01 gửi đến giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng là 12,928 gam, loại Heroine (H).
  • - Chất bột, cục màu trắng chứa trong 17 gói giấy đều có đặc điểm một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, 17 gói giấy trên được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, có khuy bấm, viền màu đỏ trong Bì niêm phong số 02 gửi đến giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng là 4,325 gam, loại Heroine (H).
  • - Chất bột, cục màu trắng chứa trong 71 gói giấy đều có đặc điểm một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, 71 gói giấy trên được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, có khuy bấm, viền màu đỏ trong Bì niêm phong số 03 gửi đến giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng là 5,924 gam, loại Heroine (H).
  • - Chất bột, cục màu hồng chứa trong 16 gói giấy đều có đặc điểm một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, 16 gói giấy trên được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, có khuy bấm trong Bì niêm phong số 04 gửi đến giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng là 0,793 gam, loại Methamphetamine.
  • * H2 (hay Heroine, D1): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
  • * Methamphetamine: số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.”

Quá trình làm việc, Đào Thị N thừa nhận đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh T2 vào ngày 15/12/2023. Đối với số ma túy thu giữ được ở nhà N, N khai tàng trữ với mục đích để bán cho người khác. Nguồn gốc số ma túy N đã bán cho T2 và tàng trữ tại nhà là mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Xét thấy hành vi của Nguyễn Thanh T2, Trần Ngọc H1 và Đào Thị N đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam đối với Nguyễn Thanh T2, Đào Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 2 Điều 251 BLHS; khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Ngọc H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS và làm rõ nội dung vụ án như sau:

Trần Ngọc H1, Nguyễn Thanh T2, Trần Việt K1 và Chử Văn K đều là người sử dụng trái phép chất ma túy. T2 quen biết H1 và K1. H1 quen biết với K nên cho nhau số điện thoại để liên lạc. Còn Đào Thị N và Nguyễn Thanh T2 trước đây làm nghề mua bán cát sỏi trên sông nên quen biết nhau. N đã 01 lần bán trái phép chất ma túy cho T2. Còn T2 đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho H1 và 01 lần bán trái phép chất ma túy cho K1. H1 đã 01 lần bán trái phép chất ma túy cho K. Cụ thể như sau:

- Ngày 30/11/2023, Nguyễn Thanh T2 bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc H1, sau đó Trần Ngọc H1 bán trái phép chất ma túy cho Chử Văn K, cụ thể:

Khoảng 17 giờ ngày 30/11/2023, K gọi điện thoại từ sim số 0865.183.xxx của Kích đến số 0916.402.555 lắp trong điện thoại nhãn hiệu Vsmart của H1 hỏi mua 500.000 đồng Heroin. H1 đồng ý, hẹn K đến khu vực Cửa hàng X, ở khu V, xã H, huyện Đ để giao nhận tiền. Kích điều khiển xe mô tô biển số 19E1-218.21, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 1951-051.28 đến điểm hẹn. Tại đây, K đưa cho H1 500.000 đồng. H1 cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đến xã H, huyện Đ. Trên đường đi, H1 dùng điện thoại lắp sim số như trên gọi đến số điện thoại 0345.591.xxx lắp trong điện thoại nhãn hiệu Masstel của T2 hỏi mua 1.000.000 đồng Heroin. T2 đồng ý và hẹn H1 đến nhà T2 ở khu T, xã H, đưa tiền trước để T2 đi mua ma túy. Khi đến nơi, H1 đưa cho T2 1.000.000 đồng (trong đó bao gồm 500.000 đồng của K và 500.000 đồng của H1). H1 chở T2 đến đoạn đường Tỉnh lộ 323 (cách nhà T2 khoảng 500m). H1 đứng chờ T2, còn T2 một mình điều khiển xe mô tô của H1 đi đến xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ mua của một người nam giới không quen biết 1.000.000 đồng được 01 gói Heroin có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ rồi T2 quay lại chỗ H1 đang đợi. Trên đường đi, khi đến đoạn đường vắng thuộc xã V, huyện Đ, T2 lấy một phần trong gói ma túy vừa mua được sử dụng cho bản thân bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Phần ma túy còn lại, T2 gói lại rồi mang về đưa cho H1, sau đó T2 đi bộ về nhà. Trên đường về, H1 dừng lại ở đoạn đường vắng, chia gói ma túy mua được thành 02 gói nhỏ, 01 gói được gói bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, 01 gói H1 gói lại trong mảnh giấy cũ. Sau đó, H1 gọi điện hẹn K đến khu vực cầu S thuộc khu T, thị trấn Đ để giao Heroin. Tại đây, H1 đưa cho K 01 gói Heroin được gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt màu trắng có dòng kẻ. K cầm gói H2 mang về nhà một mình sử dụng hết. H1 mang gói H2 còn lại về phòng trọ một mình sử dụng hết.

- Ngày 15/12/2023, Đào Thị N bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh T2, sau đó Nguyễn Thanh T2 bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc H1 và Trần Việt K1, cụ thể:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 15/12/2023, K1 gọi điện từ sim số 0862.953.646 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M32 đến số điện thoại 0345.591.xxx của T2 hỏi mua 1.000.000 đồng Heroin. T2 đồng ý và bảo K1 là T2 đến thành phố B, tỉnh Bắc Giang để mua Heroin. K1 sẽ chuyển khoản tiền mua ma túy cho người bán. Sau đó, T2 mang H2 mua được về giao cho K1. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, H1 gọi điện thoai cho T2 hỏi mua 1.500.000 đồng Heroin. T2 và H1 thỏa thuận, T2 sẽ đến thành phố B, tỉnh Bắc Giang để mua H2, H1 chuyển khoản trực tiếp cho người bán số tiền 1.800.000 đồng, trong đó: 1.500.000 đồng là tiền mua ma túy, 300.000 đồng là tiền H1 trả công cho T2. Sau khi mua được ma túy, T2 sẽ mang về giao cho H1. T2 nhờ H1 chở ra đường Q để T2 bắt xe khách đi thành phố B. H1 đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 1951-051.28 đến nhà T2 chở T2 ra Quốc lộ B đoạn thuộc xã T, huyện Đ, rồi H1 điều khiển xe đi về phòng trọ. Sau đó, T2 một mình đi xe khách đến thành phố B. Đến nơi, T2 đi bộ đến nhà Đào Thị N ở số nhà G, tầng 3, khu tập thể nhà H, phường L, thành phố B. Khi gặp N, T2 hỏi mua 2.500.000 đồng Heroin. N đồng ý. T2 hỏi N số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền mua ma túy. N không có số tài khoản ngân hàng nên đã gọi điện từ sim số 0971.840.556 lắp trong điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 của N đến số điện thoại 0346.531.xxx của chị Nguyễn Vân A1 (là con gái N), sinh năm 1992, đang làm ở thành phố Hà Nội hỏi số tài khoản ngân hàng của Vân A1. N nói mượn số tài khoản để người khác chuyển tiền đến, không nói lý do chuyển tiền. Vân A1 đồng ý và cung cấp số tài khoản 140195839 của mình tại ngân hàng V cho N. Sau đó, N đọc số tài khoản ngân hàng trên cho T2. T2 thỏa thuận với N là sẽ chuyển khoản 2.800.000 đồng, trong đó: 2.500.000 đồng là tiền mua ma túy, còn 300.000 đồng N đưa lại tiền mặt cho T2 để T2 lấy chi phí đi lại. N đồng ý. Sau đó, T2 gọi điện cung cấp số tài khoản ngân hàng trên cho K1 và H1. K1 đăng nhập ứng dụng ngân hàng A2 trên điện thoại chuyển khoản 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng A2, số tài khoản: 2710205263803 của K1 đến số tài khoản của Vân A1. Còn H1 cũng đăng nhập ứng dụng ngân hàng B3 trên điện thoại chuyển khoản 1.800.000 đồng từ tài khoản ngân hàng B3, số tài khoản: 8811389555, của H1 đến số tài khoản của Vân A1 mà T2 cung cấp. Sau khi nhận được 2.800.000 đồng, Vân A1 gọi điện thông báo cho N. Sau đó, N đưa T2 05 gói Heroin đều có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc và 300.000 đồng. T2 lấy trong mỗi gói một phần Heroin cho vào một mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc rồi gói lại thành 01 gói mới; T2 tiếp tục lấy 03 gói Heroin trong 05 gói đã mua được của N gộp vào thành 01 gói rồi gói lại bằng mảnh giấy có đặc điểm giống mảnh giấy trên. T2 có tổng số 04 gói Heroin đều có đặc điểm được gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, trong đó 02 gói có kích thước lớn hơn và 02 gói có kích thước nhỏ hơn. Sau đó, T2 đi xe khách từ thành phố B về huyện Đ.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, T2 gọi điện bảo K1 ra đón ở khu A, xã Y, huyện Đ. K1 điều khiển xe máy biển số 19E1-051.87 đến đón T2 rồi chở T2 đến khu vực đồi cây vắng người thuộc khu A, xã Y. Tại đây, T2 đưa cho K1 02 gói Heroin có kích thước nhỏ hơn. Sau đó, K1 và T2 cùng nhau đi về nhà của T2. Trên đường về, T2 gọi điện hẹn H1 đến nhà T2 lấy H2.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe mô tô biển số 1951-051.28 đến nhà T2. Tại đây, H1 gặp K1 đang ăn cơm ở bếp. T2 cùng H1 vào phòng ngủ của T2 và đưa cho H1 01 gói Heroin. Sau đó, H1 về phòng trọ. K1 mang số Heroin mua được của T2 về nhà một mình sử dụng hết. T2 cũng một mình sử dụng hết gói H2 còn lại. Sau khi H1 về phòng trọ đã sử dụng một phần ma túy mua của T2, phần còn lại là 0,011 gam H1 tàng trữ để sử dụng cho bản thân, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính như đã nêu trên.

Đối với Nguyễn Vân A1, sau khi nhận chuyển khoản số tiền 2.800.000 đồng đã sử dụng số tiền này mua thuốc và gửi về cho N. Vân A1 không biết N mượn số tài khoản ngân hàng của mình để giao dịch mua bán trái phép chất ma túy.

Ngày 22/12/2023, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Thị N thu giữ tổng số 23,177 gam Heroin và 0,793 gam Methamphetamine. Nhung tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích để bán cho người khác.

Nguồn gốc ma túy N bán cho T2 và tàng trữ tại nơi ở, N khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực B thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang vào ngày 14/12/2023.

Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đào Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Thanh T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo Trần Ngọc H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đào Thị N, Nguyễn Thanh T2 và Trần Ngọc H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • + Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Thị N từ 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù đến 07 (Bảy) năm 09 (C) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
  • + Áp dụng các điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2 từ 07 (B2) năm tù đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc H1 từ 13 (Mười ba) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 20/12/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel của bị cáo Nguyễn Thanh T2, 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart của bị cáo Trần Ngọc H1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G vỏ màu xanh của bị cáo Trần Thị N3 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M32 của anh Trần Việt K1.
  • - Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy và bao gói của Phòng K2 - Công an tỉnh P gửi trả sau giám định; 01 sim điện thoại số 0345.591.xxx của bị cáo Nguyễn Thanh T2; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh, 01 mảnh giấy bạc, sim điện thoại số 0916.402.xxx và sim điện thoại số 0847.091.xxx của bị cáo Trần Ngọc H1; 01 sim điện thoại số 0971.840.xxx của bị cáo Đào Thị N; 01 sim điện thoại số 0862.953.xxx của anh Trần Việt K1.
  • - Trả lại cho anh Trần Việt K1 01 sim điện thoại số 0984.123.xxx, bị cáo Đào Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ màu đen, lắp sim số 0877.486.533.
  • - Tịch thu số tiền các bị cáo mua bán ma túy nộp ngân sách nhà nước, gồm: Bị cáo Đào Thị N 2.500.000đ, bị cáo Nguyễn Thanh T2 1.000.000đ, bị cáo Trần Ngọc H1 500.000đ.
  • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 30/11/2023, tại khu T, xã H, huyện Đ, Nguyễn Thanh T2 đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroin cho Trần Ngọc H1 thu số tiền 1.000.000 đồng. Cùng ngày, sau khi mua được ma túy của T2, tại khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, Trần Ngọc H1 đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroin cho Chử Văn K thu số tiền 500.000 đồng. Kích đã một mình sử dụng hết số Heroin này.

Ngày 15/12/2023, tại phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Đào Thị N đã có hành vi bán trái phép 05 gói Heroin cho Nguyễn Thanh T2, thu số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy của N, khoảng 18 giờ cùng ngày, tại khu A, xã Y, huyện Đ, T2 đã có hành vi bán trái phép 02 gói Heroin cho Trần Việt K1, thu số tiền 1.000.000 đồng, K1 đã một mình sử dụng hết số Heroin này. Tiếp sau đó, khoảng 19 giờ cùng ngày, tại nhà T2 ở khu T, xã H, huyện Đ, T2 đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroin cho Trần Ngọc H1, thu số tiền 1.800.000 đồng. H1 đã một mình sử dụng một phần, số còn lại có khối lượng 0,011 gam, tàng trữ để sử dụng thị bị Công an Huyện Đ thu giữ như đã nêu trên.

Ngày 22/12/2023, tại số nhà G, tầng C, khu tập thể N, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Đào Thị N đã có hành vi tàng trữ 23,177 gam Heroin và 0,793 gam Methamphetamine nhằm mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy (gồm H2 và M) mà Đào Thị N tàng trữ trái phép nhằm mục đích để bán cho người khác là 23,970 gam.

Hành vi của Trần Ngọc H1 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Chử Văn K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của Nguyễn Thanh T2 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc H1 và 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Việt K1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của Đào Thị N 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh T2 và tàng trữ 23,177 gam Heroin và 0,793 gam Methamphetamine (tổng là 23,970 gam) nhằm mục đích để bán đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên

i) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

...

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;………”

[3]. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay đang gây nhức nhối trong dư luận nhân dân và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác.

[4]. Về nhân thân: Bị cáo Trần Ngọc H1 chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo Đào Thị N đã 1 lần bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo Nguyễn Thanh T2, ngày 11/01/2023 Chủ tịch UBND xã H áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 04 tháng, chấp hành xong ngày 11/4/2023.

[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh T2 và Trần Ngọc H1 còn khai ra các lần phạm tội trước đó nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bố đẻ của bị cáo Nguyễn Thanh T2 là người có công với cách mạng và được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo Đào Thị N đang điều trị bệnh đái tháo đường type 2, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma tuý qua từng lần một cách độc lập, không có sự phân công, bàn bạc cụ thể về việc sau khi mua được mua tuý sẽ bán lại cho người khác để cùng nhau hưởng lợi. Bị cáo Đào Thị N một lần bán trái phép ma túy và tàng trữ 23,970 gam ma túy để bán nên phải chịu trách nhiệm lớn hơn bị cáo T2, bị cáo H1. Bị cáo T2 02 lần bán trái phéo chất ma túy cho H1 và 01 lần bán trái phép chất ma túy cho K1 nên phải chịu trách nhiệm lớn hơn bị cáo H1.

Bị cáo Trần Ngọc H1 chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Các bị cáo Đào Thị N và Nguyễn Thanh T2 không có nghề nghiệp, chức vụ và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị cáo Trần Ngọc H1 tuy là công chức nhưng không giữ chức vụ gì, đồng thời cũng không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số ma túy còn lại sau giám định, 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, sim số điện thoại 0847.091.xxx do bị cáo H1 không lấy lại và sim số điện thoại thu giữ của các bị cáo, do là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Masstel của bị cáo Nguyễn Thanh T2; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart của bị cáo Trần Ngọc H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G vỏ màu xanh của bị cáo Trần Thị N3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M32 của anh Trần Việt K1, do sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội nên sẽ tịch thu sung quỹ nhà nước;
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ màu đen, lắp sim số 0877.486.533 của bị cáo Đào Thị N, chiếc điện thoại này bị cáo không sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 sim điện thoại số 0984.123.xxx của anh Trần Việt K1 do không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho anh K1.
  • - Đối với số tiền bị cáo Nguyễn Thanh T2 bán ma túy là 1.000.000đ, bị cáo Đào Thị N bán ma túy là 2.500.000đ, bị cáo Trần Ngọc H1 bán ma túy là 500.000đ, các bị cáo đều đã sử dụng hết nên sẽ tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 300.000đ bị cáo T2 sử dụng. Tại phiên tòa bị cáo H1 xác nhận số tiền này bị cáo H1 tự nguyện cho bị cáo T2 nên không tịch thu lại để nộp ngân sách nhà nước nữa.

[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Ngọc H1, Nguyễn Thanh T2, Chử Văn K và Trần Việt K1: Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[8]. Đối với chị Nguyễn Vân A1 là người có hành vi dùng số tài khoản ngân hàng của mình để nhận tiền mua bán ma túy giữa Đào Thị N và Nguyễn Thanh T2. Tuy nhiên chị Nguyễn Vân A1 không biết số tiền mà N nhờ nhận chuyển khoản là tiền bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này.

[9]. Đối với anh Trần Ngọc Vĩnh H3 là người cho H1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Hon da Waves biển số 19S1-051.28, anh H3 không biết việc H1 sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh H3 trong vụ án này.

[10]. Đối với người đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh T2 vào ngày 30/11/2023và người đã bán ma túy cho Đào Thị N vào ngày 14/12/2023, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xử lý.

[11]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Thị N;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh T2;

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Ngọc H1;

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Thị N, Nguyễn Thanh T2 và Trần Ngọc H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Đào Thị N 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 22/12/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 17/12/2023.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H1 14 (Mười bốn) tháng tù. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ 14 giờ 00 phút ngày 18/12/2023 đến 14 giờ 00 phút ngày 20/12/2023.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 358372052962116, số IMEI 2: 358372053472115 của bị cáo Nguyễn Thanh T2; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu đen, số IMEI 1: 355173110376114, số IMEI 2: 355173110376122 của bị cáo Trần Ngọc H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 355406840302392, số IMEI 2: 0355406840802391của bị cáo Đào Thị N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M32, vỏ màu xanh đen, đã cũ, số sê- ri 1: RF8TB0WQK2Z, số IMEI (khe 1): 359093386452175, số IMEI (khe 2): 359768846451176 của anh Trần Việt K1.
  • - Tịch thu, tiêu hủy: 0,003gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong bì niêm phong dán kín số 1591/KL-KTHS có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P; 11,039gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong bì niêm phong số 1, 3,489gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong bì niêm phóng số 2, 5,327gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong bì niêm phong số 3, 0,631gam chất bột cục màu hồng là mẫu vật còn lại trong bì niêm phong số 4 cùng toàn bộ bao gói được gửi đến giám định đựng trong 01 (Một) túi niêm phong số 066086, kèm theo KLGĐ số 1639/KL-KTHS, ngày 25/12/2023 có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh P gửi trả; 01 sim điện thoại số 0345.591.xxx của bị cáo Nguyễn Thanh T2; 01 chiếc bật lửa gas màu xanh, 01 mảnh giấy bạc, sim điện thoại số 0916.402.xxx và sim điện thoại số 0847.091.xxx của bị cáo Trần Ngọc H1; 01 sim điện thoại số 0971.840.xxx của bị cáo Đào Thị N, 01 sim điện thoại số 0862.953.xxx của anh Trần Việt K1.
  • - Trả lại cho anh Trần Việt K1 01 sim điện thoại số 0984.123.xxx; Trả lại cho bị cáo Đào Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ màu đen, lắp sim số 0877.486.533.
  • - Tịch thu của bị cáo Đào Thị N 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Thanh T2 1.000.000đ (Một triệu đồng), bị cáo Trần Ngọc H1 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

(Các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng đang quản lý).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Buộc bị cáo Đào Thị N, Nguyễn Thanh T2 và Trần Ngọc H1, mỗi bị cáo phải nộp phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Vũ Thường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nhung ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger