Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 5 - 2024

“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Phúc Định
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh và ông Vũ Khắc Hoàn
  • - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Chung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 176/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/4/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1981; nơi thường trú: thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 1985; nơi thường trú: thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai, và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Văn H trình bày:

Anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y (nay là thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 19/12/2011 cả hai tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở tại thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Hchị Đào Thị T không hợp nhau, mọi chuyện, thường xuyên xảy ra cãi vã; anh Hchị Đào Thị T đều đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng không được. Anh Hchị Đào Thị T đang sống ly thân nhau và vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai. Nay, tình cảm của anh H dành cho chị Đào Thị T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh H làm đơn để nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho anh Hchị Đào Thị T.

Về con chung: Quá trình chung sống anh Hchị Đào Thị T có 02 con chung là Phạm Minh T1, sinh ngày 07/6/2015 và Phạm Hồng T2, sinh ngày 07/6/2015, Khi ly hôn, anh H muốn được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị Đào Thị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và vay nợ chung: anh Phạm Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập, các thông báo và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho chị T, tuy nhiên chị T vẫn vắng mặt, không có lý do, không có quan điểm trình bày về việc anh H khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con chung.

Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 31/01/2024 và ngày 12/3/2024, nhưng do chị Đào Thị T vắng mặt nên Tòa án không thực hiện được.

Tại phiên tòa sơ thẩm mở lần thứ nhất ngày 15/4/2024, chị Đào Thị T vắng mặt không có lý do; mở lần thứ hai hôm nay 14/5/2024, chị Đào Thị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do; anh Phạm Văn H có đơn xin xử vắng mặt.

Tại Biên bản xác minh ngày 11/01/2024, đại diện chính quyền thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cung cấp: Anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T kết hôn ngày 19/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn cả 2 chung sống tại thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình chung sống cả 2 không yêu cầu thôn hòa giải mâu thuẫn, thôn chỉ biết vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cả 2 không còn chung sống với nhau. Chị T hiện đi làm xa nhưng vẫn thường xuyên về. Nay anh H yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T có 02 (Hai) con chung là: Phạm Minh T1, sinh ngày 07/6/2015 và Phạm Hồng T2, sinh ngày 07/6/2015, hiện nay cả 2 cháu đang ở cùng anh H. Nếu cả hai ly hôn đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của 2 cháu và điều kiện của hai bên để giao con cho phù hợp.

Về tài sản thôn không được biết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn H. Xử: anh Phạm Văn H được ly hôn chị Đào Thị T; về con chung, giao 02 con chung là: Phạm Minh T1, sinh ngày 07/6/2015 và Phạm Hồng T2, sinh ngày 07/6/2015 cho anh Phạm Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi), chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu giải quyết; về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Phạm Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn chị Đào Thị T, có địa chỉ thường trú tại: thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do; căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung cần giải quyết của vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T có đăng ký kết hôn từ năm 2011 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T thường xuyên sảy ra mâu thuẫn do nguyên nhân bất đồng quan điểm sống không hợp nhau, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa, cũng như tình cảm không hòa hợp giữa 2 vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống, không còn yêu thương nhau nữa, chị T đã đi làm xa nhà, thường xuyên có về, nhưng vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau, chị Đào Thị T vắng mặt tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án không có quan điểm về vấn đề yêu cầu ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Văn H đối với chị Đào Thị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T có 02 (Hai) con chung là: Phạm Minh T1, sinh ngày 07/6/2015 và Phạm Hồng T2, sinh ngày 07/6/2015; anh H nhận nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, các con chung là Phạm Minh T1Phạm Hồng T2 ở với anh Phạm Văn H từ bé và từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, đến nay anh Phạm Văn H vẫn đang nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung. Tại Biên bản ghi nhận quan điểm của 02 cháu Phạm Minh T1Phạm Hồng T2 có nguyện vọng nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu mong muốn được ở với bố, như vậy xét nguyện vọng nuôi cả 02 con chung của anh Phạm Văn H và nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu mong muốn được ở với bố của các cháu Phạm Minh T1Phạm Hồng T2 là phù hợp; chị Đào Thị T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có quan điểm về vấn đề con chung, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh Phạm Văn H, giao 02 con chung là Phạm Minh T1, sinh ngày 07/6/2015 và Phạm Hồng T2, sinh ngày 07/6/2015, cho anh Phạm Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, chị Đào Thị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, anh Hchị T có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về vấn đề khác: anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đề cập.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Phạm Văn H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn H.

  1. Về hôn nhân: Anh Phạm Văn H được ly hôn anh chị Đào Thị T.
  2. Về con chung: Giao 02 (Hai) con chung là: Phạm Minh T1, sinh ngày 07/6/2015 và Phạm Hồng T2, sinh ngày 07/6/2015 cho anh Phạm Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ ngày 14/5/2024 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), chị Đào Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị Đào Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Phạm Văn H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) anh Phạm Văn H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0004009 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T vắng mặt. Báo cho anh Phạm Văn Hchị Đào Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Quảng Yên;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Quảng Yên;
  • - UBND xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Huấn được ly hôn anh chị Đào Thị Tài
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger