Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-PT.

Ngày 14/5/2024.

V/v: “Chia tài sản chung sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông

Các thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Hiền và bà Hoàng Thị Hải Hường

-Thư ký phiên toà: Trần Như Ý - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giangtham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 14/05/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 03/2024/TLPT- HNGĐ ngày 16/01/2024 về việc: “Chia tài sản chung sau ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo, kháng nghị. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2024/QĐ-PT ngày 16/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐ-PT ngày 09/04/2024, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 78/TB-TA ngày 07/05/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981

    Địa chỉ: thôn C, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

    (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

  • * Bị đơn: Ông Phan Thanh T, sinh năm 1980

    HKTT: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

    Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

    (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    Anh Phan Mạnh T1, sinh năm 2001 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

  • * Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc

Giang và kháng cáo của bị đơn ông Phan Thanh T đối với bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà kết hôn với ông Phan Thanh T năm 2000. Năm 2013, ông bà đã ly hôn. Năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế đã chia tài sản chung của ông bà là thửa đất số 23, tờ bản đồ số 13, diện tích 10.826,4m² tại thôn S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng chưa chia tài sản gắn liền trên đất. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án chia các tài sản hiện còn trên đất. Các tài sản này do công sức chung của bà và ông T làm ra, công sức đóng góp của hai người là bằng nhau. Bà đề nghị chia 1/2 trị giá các tài sản hiện còn tồn tại như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá, tài sản gắn liền phần đất của ai thì chia cho người đó, nếu có chênh lệch trị giá thì bù trừ cho nhau bằng tiền.

- Bị đơn là ông Phan Thanh T trình bày:

Ông và bà H là vợ chồng hợp pháp, kết hôn từ năm 2000 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống với nhau tại thôn T, xã Đ. Đến năm 2006 ông bà mua được thửa đất số 23, tờ bản đồ số 13 ở thôn T, xã Đ và chuyển về đây sinh sống. Do bà H nghi ngờ ông có quan hệ ngoại tình nên vợ chồng ông đã ly hôn năm 2016. Khi ly hôn, ông bà đã đề nghị Tòa án chia thửa đất số 23 nhưng không ai yêu cầu chia các tài sản gắn liền trên đất. Nay bà H lại khởi kiện yêu cầu chia các tài sản gắn liền trên đất là nhà ở, công trình, cây cối... thì ông không đồng ý vì trước đây khi chia đất bà H không yêu cầu chia tài sản trên đất. Nay bản án đã có hiệu lực pháp luật nên bà H không có quyền khởi kiện nữa.

Nếu Tòa án cứ thụ lý giải quyết vụ án thì ông cũng không đồng ý chia tài sản. Ông xác định công của hai vợ chồng tạo lập nên các tài sản bà H kiện là bằng nhau. Các tài sản của bà H kiện đều là tài sản chung của ông và bà H. Hiện tại trên phần đất chia cho ông và cho bà H thì ông và con trai của ông và bà H đang sinh sống. Ngoài ra không có ai ở trên 2 phần đất này. Con trai của ông là Phan Mạnh T1, sinh năm 2001, hiện đang là sinh viên. Trên phần đất của ông và bà H thì anh T1 không đóng góp, tạo lập được tài sản gì. Hiện tại, ông và anh T1 đang ở trên ngôi nhà cũ trên phần đất chia cho bà H.

Trên toàn bộ phần đất đã được chia cho ông và cho bà H mà Tòa án đã thống kê, định giá thì có các tài sản của riêng ông do ông trồng trọt sau khi ông và bà H ly hôn, đó là: Toàn bộ diện tích cây xả, toàn bộ cây bưởi, toàn bộ cây táo, toàn bộ cây quất (chỉ trồng bên phần đất của ông), 37 cây vải ĐK tán 0,5 – 1m (trên phần đất của ông), 02 cây mít (bên phần đất của ông), toàn bộ diện tích sắn. Ngoài ra là các tài sản chung của ông và bà H. Ông xác định công sức tạo lập nên các tài sản chung là ngang nhau, ông đề nghị chia tài sản cho ông và bà H ngang nhau.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phan Mạnh T1 không cung cấp ý kiến cho Tòa án .

* Với nội dung nêu trên, Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29/9/2023 và Quyết định số 30/2023/QĐ-SCBSBA ngày 11/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã xét xử, quyết định:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 157; khoản 2 Điều 165; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;Điều 213, Điều 219, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 33, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phan Thanh T.
  2. Giao cho bà Nguyễn Thị H sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên phần đất có cạnh là CDEFGHIK diện tích 5.127,5m² ở thửa đất số 23, tờ bản đồ số 13 tại thôn S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang gồm: 01 cây nhãn: 2.216.000đồng; 28 cây vải ĐK tán 6,5-7,5m: 96.964.000 đồng; 01 cây ổi: 460.000đồng; 01 cây ổi: 1.270.000đồng; 01 cây hồng ăn quả: 1.718.000đồng; 01 cây sấu: 1.118.000đồng; Nhà cấp 4: 39.557.700đồng; Nhà bếp: 3.368.000đồng; Khu chăn nuôi: 11.683.000đồng; Lò sấy vải: 4.106.000đồng; Nhà vệ sinh: 124.000đồng; T2 rào xây cay dài 69,45m: 5.625.000đồng; Cổng sắt: 1.356.000đồng; 02 trụ cổng: 505.000đồng; Bể nước: 147.000đồng; Giếng đào: 2.547.000đồng; Xả 550m²: 4.840.000đồng; Sắn 170m²: 1.496.000đồng; 01 cây bưởi: 2.306.000đồng; 01 cây táo ĐK gốc 9-12cm: 1.415.000đồng; 02 cây táo ĐK gốc >29cm: 5.170.000đồng. Tổng trị giá là 187.991.700 đồng.
  3. Giao cho ông Phan Thanh T sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền trên phần đất có cạnh là KNMOPQABC, diện tích 5.698,7m² ở thửa đất số 23, tờ bản đồ số 13 tại thôn S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang gồm: Giếng khoan: 3.400.000đồng; Nhà tạm không có mái: 111.000đồng; 02 chuồng chăn nuôi: 3.921.000đồng; T2 rào xây cay: 4.917.000đồng; 76 cây vải ĐK tán 2,5 – 3m: 130.188.000đồng; 01 cây vải ĐK tán 6,5 – 7,5m: 3.463.000đồng; 04 cây xà cừ: 700.000đồng; Xả 3.000m 2: 26.400.000đồng; 01 cây bưởi ĐK gốc 5 – 7cm: 1.091.000đồng; 01 cây bưởi ĐK gốc 15 – 20cm: 2.585.000đồng; 37 cây vải ĐK tán 0,5 – 1m: 5.402.000đồng; Quất 290m²: 13.079.000đồng; 02 cây mít ĐK gốc 7 - 9cm: 706.000đồng. Tổng trị giá là 195.963.000đồng.
  4. Buộc bà Nguyễn Thị H phải trích chia cho ông Phan Thanh T giá trị tài sản là 28.259.000 đồng.

2. Về chi phí tố tụng:

  • - Bà Nguyễn Thị H phải chịu 700.000 đồng chi phí định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản. Xác nhận bà H đã nộp đủ chi phí này.
  • - Ông Phan Thanh T phải trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 1.300.000 đồng chi phí định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản.

3. Về án phí:

  • - Bà Nguyễn Thị H phải chịu 7.986.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 595.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009140 ngày 14/4/2023 tại Chi cục thi hành án huyện Yên Thế, bà Nguyễn Thị H còn phải nộp tiếp 7.391.000 đồng án phí.
  • - Ông Phan Thanh T phải chịu 11.211.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

* Kháng cáo: Ngày 12/10/2023, bị đơn ông Phan Thanh T kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm và yêu cầu Tòa án thẩm định, định giá lại tài sản trên hai thửa đất của ông và bà Nguyễn Thị H được hưởng. Trích chia lại tài sản trên 2 thửa đất để đảm bảo sát với thực trạng khách quan để không gây thiệt thòi cho ông.

* Kháng nghị: Ngày 13/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2023, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm và đề nghị sửa bản án sơ thẩm về phần giải quyết án phí.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giữ nguyên đơn khởi kiện, các ý kiến đã trình bày và đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc chia tài sản

Ông Phan Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày nội dung kháng cáo như sau: Ông T xin rút nội dung kháng cáo về việc trích chia và định giá lại tài sản chung giữ ông và bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc chia tài sản và đề nghị sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế giữ nguyên kháng nghị

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 289, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Chấp nhận kháng nghị của VKSND huyện Yên Thế, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung ông Phan Thanh T kháng cáo về chia tài sản chung; chấp nhận kháng cáo của ông Phan Thanh T về án phí sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29/9/2023 và Quyết định số 30/2023/QĐ-SCBSBA ngày 11/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế theo hướng :

Về án phí sơ thẩm: Ông Phan Thanh T phải chịu 7.986.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Phan Thanh T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1]. Về sự vắng mặt của một số người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – anh Phan Mạnh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và anh Phan Mạnh T1.

[2]. Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế và kháng cáo của ông Phan Thanh T về phần án phí chia tài sản chung.

Năm 2000, bà Nguyễn Thị H kết hôn với ông Phan Thanh T. Sau đó bà H, ông T đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn và phân chia tài sản là quyền sử dụng đất. Tài sản gắn liền trên đất của bà H, ông T chưa được phân chia.

H khởi kiện đề nghị Tòa án phân chia cho bà 1/2 giá trị các tài sản trên đất là tài sản chung của bà và ông T theo như kết quả định giá. Tài sản gắn liền trên phần đất của ai thì chia cho người đó nếu có chênh lệch thì bù trừ cho nhau bằng tiền. Bà nhất trí với ý kiến của ông T về số lượng tài sản riêng của ông T có trên đất đã được định giá.

Ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H vì trước đây bà H yêu cầu chia đất, không yêu cầu chia tài sản trên đất. Các tài sản bà H khởi kiện là tài sản chung của ông và bà H. Trên phần đất Tòa án đã chia cho ông và bà H có tài sản riêng của ông, do ông trồng sau khi ly hôn với bà H là cây xả, cây bưởi, cây táo, cây quất, cây vải, cây mít, cây sắn được định giá.

Theo kết quả định giá, Tòa án sơ thẩm đã xác định tài sản trên đất là tài sản chung của ông T, bà H có tổng trị giá 319.464.700 đồng; tài sản riêng của ông T có trị giá 64.490.000 đồng.

Tòa án sơ thẩm đã giải quyết phân chia cho ông T, bà H được sở hữu các tài sản trên phần đất của mình đã được chia; bù trừ chênh lệch bà H phải trả cho ông T 28.259.000 đồng. Bà H, ông T mỗi người được hưởng 1/2 trị giá tài sản chung 319.464.700đồng : 2 = 159.732.000 đồng. Ông T được sở hữu phần tài sản riêng của mình có trị giá là 64.490.000 đồng.

Do giữa bà H, ông T chỉ yêu cầu phân chia phần tài sản chung, không tranh chấp phần tài sản riêng có trị giá 64.490.000 đồng của ông T. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bà H và ông T mỗi người chỉ phải chịu án phí sơ thẩm tương ứng với trị giá phần tài sản chung mà họ được hưởng là 159.732.000 đồng x 5% = 7.986.000 đồng. Ông T không phải chịu án phí đối với trị giá phần tài sản riêng của ông.

Việc Tòa án sơ thẩm buộc ông T phải chịu án phí đối với phần tài sản chung được chia và cả phần tài sản riêng của ông (159.732.000 đồng+ 64.490.000 đồng) x 5% = 11.211.000 đồng là buộc ông T phải chịu án phí nhiều hơn so với quy định của pháp luật 11.211.000 đồng - 7.986.000 đồng = 3.225.000 đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế kháng nghị một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản án sơ thẩm về phần giải quyết án phí, buộc ông Phan Thanh T phải chịu 7.986.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và kháng cáo của ông T về phần án phí dân sự sơ thẩm là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[3]. Xét kháng cáo của ông Phan Thanh T thì thấy:

Tại đơn kháng cáo ông T trình bày về việc ông không đồng ý với kết quả thẩm định, định giá của Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị trích chia lại tài sản. Tuy nhiên ngày 08/5/2024, ông T có đơn xin rút kháng cáo đối với yêu cầu thẩm định, định giá và trích chia lại tài sản. Nên HĐXX đình chỉ nội dung kháng cáo của ông T về phần tài sản là phù hợp.

[4]. Về án phí:

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.986.000 đồng.

Ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn điểm c khoản 1 Điều 289, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế và kháng cáo của ông Phan Thanh T về phần án phí dân sự sơ thẩm; đình chỉ kháng cáo của ông Phan Thanh T về phần chia lại tài sản chung. Sửa bản án sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 29/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về phần án phí, cụ thể: Ông Phan Thanh T phải chịu 7.986.000 (Bảy triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại ông T số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn)đồng đã nộp tại Biên lai số 0004810 ngày 20/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND huyện Yên Thế;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thế;
  • - Cổng thông tin điện tử ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị H và anh Phan Thanh T chia tài sản chung sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger