TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-5-2024 | |
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa ông Nguyễn Ngọc Trưởng và bà Nguyễn Thị Hồng Phượng | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Thanh Xuân;
- Bà Trần Thị Thúy Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-HNGĐ ngày 31/01/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp E, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh 1991. Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Ông và bà P chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Sau khi kết hôn về chung sống với nhau tại ấp E, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho đến năm 2020 thì bà P xin đi thành phố Hồ Chí Minh làm thuê kiếm tiền rồi từ đó bà P không có về chung sống với ông nữa. Ông và bà P đã ly thân từ đó cho đến nay. Trước lúc bà P đi thì vợ chồng ông không có mâu thuẫn hay cự cãi gì cả. Khi bà P đi thành phố Hồ Chí Minh làm thuê thì lúc đầu cũng có điện thoại về hỏi thăm ông và con sau đó thì không còn có liên lạc gì nữa. Ông có qua nhà bên vợ để thăm hỏi được 02 lần nhưng bên gia đình vợ ông không quan tâm gì tới ông và con nên ông không có qua nữa. Suốt 04 năm nay, ông và bà P đã không còn chung sống với nhau, cũng như không có liên lạc qua lại gì với nhau, bà P cũng không có về thăm nom con. Nay ông xác định vợ chồng ông đã không còn tình cảm gì với nhau nữa, không còn sự thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và hơn nữa đã không còn chung sống với nhau gần 04 năm nay. Ông xác định đời sống chung của vợ chồng ông đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà P.
Về con chung: Ông và bà P có một con chung tên Nguyễn Duy T1, sinh ngày 25/6/2011, hiện đang do ông trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà P nhưng bà P cố tình vắng mặt nên Tòa án phải giao cho người thân theo quy định của pháp luật, bà P không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, vì vậy Tòa án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối với ông T và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay là lần xét xử thứ hai bà P vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Hồng P. Ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Căn cứ trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T. Xử cho ông Nguyễn Ngọc T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P.
Về con chung: Giao cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Duy T1, sinh ngày 25/6/2011.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông T không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Duy T1, sinh ngày 25/6/2011 nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu nên không xem xét.
Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
Về án phí: Buộc ông T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Nguyễn Thị Hồng P hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà P vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Hồng P.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà P chung sống với nhau vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh, như vậy là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Ông T cho rằng ông và bà P mâu thuẫn là do vợ bất đồng quan điểm, vợ chồng đã không còn sự thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ cùng nhau, vợ chồng đã không còn liên lạc gì và không còn chung sống với nhau gần 04 năm nay, nay ông T khẳng định tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể hàn gắn nên ông kiên quyết xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P. Vấn đề này thấy rằng: Tuy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà P là không lớn lắm nhưng hai người lại bất đồng quan điểm, bà P đã bỏ đi hơn 04 năm nay, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau, không còn liên lạc gì với nhau, điều này thể hiện tình nghĩa vợ chồng giữa ông T và bà P đã không còn, vợ chồng đã không thể thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không quan tâm chia sẻ lẫn nhau. Hơn nữa, từ khi Tòa án thụ lý vụ án thì bà Nguyễn Thị Hồng P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà P vẫn không có mặt và cũng không có ý kiến gửi cho Tòa án. Từ đó thấy rằng bà P đã không còn quan tâm đến mối quan hệ vợ chồng giữa bà và ông T, mặc cho ông T muốn làm gì thì làm đủ để thấy giữa hai người không còn tình nghĩa vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn, vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T, xử cho ông T được ly hôn với bà P là phù hợp.
[3] Về con chung: Ông T khai trong quá trình chung sống có 01 con chung là Nguyễn Duy T1, sinh ngày 25/6/2011, hiện do ông đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Duy T1, sinh ngày 25/6/2011 và ông không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con, bà P vắng mặt không có ý kiến trình bày. Xét thấy, từ khi ông T và bà P không còn chung sống với nhau, cháu Nguyễn Duy T1 được ông T nuôi dạy tốt, không bị ngược đãi, đánh đập gì, hơn nữa cháu Nguyễn Duy T1 cũng có lời khai khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng muốn được sống với cha là ông Nguyễn Ngọc T, vì vậy Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của ông T là giao cháu Nguyễn Duy T1, sinh ngày 25/6/2011 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, đồng thời quy định về quyền được tới lui thăm nom con cho bà P sau khi ly hôn là có căn cứ, phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa hôm nay, ông T đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng ông T cho rằng ông có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung, ông không có yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Buộc ông T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Vị Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; 147, 227, 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc T. Ông Nguyễn Ngọc T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc T. Xử giao con chung tên Nguyễn Duy T1, sinh ngày 25/6/2011 cho ông Nguyễn Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Hồng P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ông Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Nguyễn Thị Hồng P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Nguyễn Ngọc T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
Về tài sản chung: Ông Nguyễn Ngọc T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc ông Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000793 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè. Ông Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Trúc Linh | |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | ||
HỘI THẨM NHÂN DÂN | HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trần Thị Thúy Phượng | Ngô Thanh Xuân | Dương Thị Trúc Linh |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn, không con chung
