Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày: 12-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Quý Hòa – Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh huyện Hoài Ân;
  • Ông Nguyễn Quốc Việt – Hiệu trưởng Trường THPT Võ Giữ.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hồng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, Thông báo dời lịch xét xử số 399/TB-TA ngày 24 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-HS ngày 07/6/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06 tháng 02 năm 2007, tại H, Bình Định (tuổi tại thời điểm phạm tội: 16 tuổi 08 tháng 26 ngày tuổi); Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Học sinh tại trường THPT T4, huyện H; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1974, Con bà: Nguyễn Thị G, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V: Ông Phạm Minh V1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt.

- Người đại diện của bị cáo Nguyễn Văn V và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1977;

Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Đại diện nhà trường nơi bị cáo Nguyễn Văn V học tập: Thầy giáo Huỳnh Chung N - Giáo viên chủ nhiệm lớp 11A6 Trường THPT T4, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Trần Thanh C1, sinh năm 1982;
  2. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1984;
  4. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  5. Ông Văn Anh T, sinh năm 1980;
  6. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  7. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1993;
  8. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

  9. Ông Nguyễn Phương Q, sinh năm 1977;
  10. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

  11. Bà Võ Thị H, sinh năm 1977;
  12. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  13. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987;
  14. Nơi cư trú: Thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  15. Bà Lê Thị D1, sinh năm 1982;
  16. Nơi cư trú: Thôn H, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

  17. Bà Võ Thị Thúy M, sinh năm 1980;
  18. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  19. Bà Ngô Thị Bích H2, sinh năm 1985;
  20. Nơi cư trú: Thôn H, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  21. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981;
  22. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Tấn H3, sinh năm 2009;
  2. Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Tấn H3: Ông Nguyễn Kim T2, sinh năm 1976;

    Đồng cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

  3. Bà Phan Thị Tuyết S, sinh năm 1976;
  4. Nơi cư trú: Thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  5. Bà Huỳnh Thị Bích Đ, sinh năm 1983;
  6. Nơi cư trú: Thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  7. Bà Khúc Thị Bé T3, sinh năm 1983;
  8. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  9. Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1986;
  10. Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên vào các ngày 31/10/2023, 01/11/2023, 02/11/2023 và 03/11/2023, Nguyễn Văn V và Nguyễn Tấn H3 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 31/10/2023, Nguyễn Văn V và Nguyễn Tấn H3 mỗi người điều khiển một xe đạp điện của gia đình cùng nhau đi dạo trên các tuyến đường của xã Â, huyện H tìm kiếm xe đạp điện để trộm cắp bình ắc quy. Khi đến trước nhà của Võ Thị H ở thôn P trông thấy xe đạp điện nhãn hiệu KAZUKI màu xanh dựng trước nhà thì V, H3 dựng xe ngoài đường rồi chui qua khoảng trống hàng rào lưới B40 vào đến vị trí xe đạp điện, V dùng chìa khóa có sẵn trên xe mở hộp đựng 04 bình ắc quy hiệu HITACHI đưa cho H3 rồi cả hai cùng đi ra theo lối cũ.

Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 01/11/2023, V, H3 điều khiển xe đạp điện đi theo hướng ngã ba “G”. Khi đi đến trước nhà của Nguyễn Thị N1 ở thôn P, trông thấy xe đạp điện nhãn hiệu KAZUKI màu xanh đen dựng dưới mái hiên trước nhà thì H3 lấy 01 tua vít trong cốp xe của H3 rồi cùng V đi bộ đến trước nhà N1. Vương trèo qua hàng rào rồi mở cổng cho H3 vào. V, H3 cùng nhau dùng tua vít tháo lấy 04 bình ắc quy hiệu HITACHI của xe đạp điện. Trong lúc tháo bình ắc quy thì tua vít bị cong nên V vứt bỏ tua vít ngoài đường.

Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 01/11/2023, V, H3 đến trước nhà Nguyễn Phương Q ở thôn P thì nhìn thấy xe đạp điện hiệu KAZUKI màu xanh dựng dưới mái hiên trước nhà nên đi đến dùng tay mở cổng sắt nhà Q do cổng không khóa. Cả hai đi đến vị trí xe đạp điện dùng tay gỡ hộp đựng 04 bình ắc quy hiệu HITACHI của xe đạp điện ra để trên bệ gác chân xe đạp điện của V. Sau đó, V và H3 điều khiển xe đạp điện chở 12 bình ắc quy trộm cắp được về ngôi nhà bỏ hoang của Ngô Quốc L (sinh năm 1977, nơi cư trú: thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định) cất giấu rồi về nhà ngủ.

Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01/11/2023, H3 điều khiển xe đạp điện chở V đến ngôi nhà bỏ hoang lấy 04 bình ắc quy đi đến tiệm mua bán phế liệu của Huỳnh Thị Bích Đ bán với số tiền 320.000 đồng, V, H3 chia nhau mỗi người 160.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, V, H3 tiếp tục đến nhà hoang lấy 08 bình ắc quy còn lại đi đến tiệm mua bán phế liệu của Khúc Thị Bé T3 bán với số tiền 840.000 đồng, chia nhau mỗi người 420.000 đồng.

Lần thứ hai:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/11/2023, V, H3 cùng điều khiển xe đạp điện đến trước nhà Lê Thị D1 ở thôn H thì trông thấy có 01 xe đạp điện màu đỏ - đen dựng dưới mái hiên nhà. H3 đứng bên ngoài, V dùng 01 tua vít tháo lấy 01 hộp đựng 04 bình ắc quy hiệu XUPAI của xe đạp điện, ôm ra đưa qua hàng rào cho H3 rồi trèo ra ngoài.

Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 02/11/2023, khi đi đến trước nhà Ngô Thị Bích H2 cũng tại thôn H, V, H3 thấy có 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu 1331 màu đỏ - đen dựng trước nhà. H3 đứng bên ngoài, V trèo qua hàng rào lưới B40 vào trong sân đi đến vị trí xe đạp điện, dùng tay tháo lấy 01 hộp đựng 04 bình ắc quy hiệu XUPAI của xe đạp điện đưa ra hàng rào cho H3.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, V, H3 đến trước quán cà phê “Muội Muội” của Võ Thị Thúy M ở thôn P thì thấy có 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu BRIDGESTONE màu hồng dựng bên hông nhà. Cả hai cùng đi vòng ra phía sau quán cà phê, dỡ hàng rào lưới B40 chui vào trong sân đi đến vị trí chiếc xe đạp điện. V rút dây bình lấy hộp đựng 04 bình ắc quy hiệu 6-DZM-12 rồi đưa cho H3. Sau đó V, H3 đem 03 hộp đựng 12 bình ắc quy nói trên đến ngôi nhà bỏ hoang của Ngô Quốc L cất giấu. Do xe hết điện nên V để xe tại đó rồi H3 chở V tiếp tục tìm kiếm xe đạp điện để trộm cắp bình ắc quy.

Khoảng 01 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến trước nhà của Nguyễn Thị T1 ở thôn P, thấy có 01 xe đạp điện nhãn hiệu M133 màu đen dựng trước sân nhà không khóa cửa cổng nên H3 đi đến vị trí dựng xe đạp điện, dắt xe ra ngoài đường rồi V và H3 dùng tay tháo lấy hộp đựng 04 bình ắc quy hiệu XUPAI rồi đưa về giấu tại nhà hoang của Ngô Quốc L.

Đến khoảng 11 giờ 20 phút ngày 02/11/2023, V, H3 đến nhà hoang lấy 04 bình ắc quy trộm cắp được tại nhà M đem đến tiệm mua bán phế liệu của Nguyễn Văn C2 bán với số tiền 370.000 đồng. V chia cho H3 số tiền 120.000 đồng, V giữ số tiền 250.000 đồng.

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/11/2023, H3 đi bộ một mình đến quán cà phê “Muội Muội” thì thấy xe đạp điện không rõ nhãn hiệu màu đỏ - đen dựng phía ngoài quán của Nguyễn Thị H1 ở thôn T không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp bình ắc quy. H3 dắt xe đạp điện ra phía sau quán cà phê rồi dùng tay tháo hộp đựng bình ắc quy hiệu XUPAI của xe đạp điện ra đem cất giấu tại đường mương nước gần đó.

Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, V đem bán 03 bộ gồm 12 bình ắc quy trộm cắp được tại nhà Lê Thị D1, Ngô Thị Bích H2, Nguyễn Thị T1 cho một người đàn ông (không xác định được lai lịch, địa chỉ) mua phế liệu dạo trên đường với số tiền 900.000 đồng. V chia cho H3 số tiền 400.000 đồng, V giữ số tiền 500.000 đồng.

Lần thứ ba:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 03/11/2023, V đi bộ đến nhà H3 rồi H3 điều khiển xe đạp điện chở V đi trên các tuyến đường thuộc xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Đến 00 giờ 30 phút ngày 03/11/2023, khi đi đến đoạn đường trước nhà Trần Thanh C1 ở thôn P, trông thấy có 01 xe đạp điện hiệu Kazuki, màu đỏ - đen dựng dưới mái hiên nhà. V, H3 dừng xe lại. Cổng không khóa nên cả hai dùng tay mở cổng. V phụ đỡ xe, H3 dùng 01 cái tua vít màu đỏ - đen tháo lấy hộp đựng bình ắc quy bằng nhựa và 04 bình ắc quy hiệu ZHAOXA. Sau khi tháo xong cả hai điều khiển xe đi.

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 03/11/2023, H3 chở V đi đến trước nhà Trần Thị Mỹ D ở thôn P thì thấy 01 xe máy điện hiệu DTP, màu đen, biển kiểm soát 77MĐ7-004.96 dựng dưới mái hiên nhà. Vương trèo qua hàng rào sắt vào trong sân, đi đến vị trí dựng xe máy điện, dùng tua vít tháo lấy 01 bộ gồm 04 bình ắc quy hiệu SKY-E BATTERY rồi đưa qua hàng rào cho H3.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/11/2023, V, H3 đi đến trước nhà Văn Anh Trọng ở thôn P thì thấy 01 xe đạp điện hiệu FLEGENT, màu đỏ - đen của T đang sạc và dựng dưới mái hiên nhà không có cửa cổng. H3 lấy tua vít đưa cho V và đứng bên ngoài cảnh giới. V đi đến vị trí dựng xe, rút dây sạc, dắt xe ra sân Nhà sinh hoạt cộng đồng thôn P, dùng tua vít tháo lấy 01 hộp đựng bình bằng nhựa và 04 bình ắc quy hiệu SARUNE. Sau đó, H3 điều khiển xe đạp điện chở V và 12 bình ắc quy vừa trộm cắp được về nhà hoang cất giấu. Lúc này, H3 nói cho V biết vào chiều ngày 02/11/2023 đã trộm 01 hộp đựng bình ắc quy bằng nhựa và 04 bình ắc quy hiệu XUPAI của Nguyễn Thị H1 ở gần quán cà phê “Muội Muội” thuộc thôn P, xã Â, huyện H rồi cả hai cùng đem cất giấu chung với 03 bộ bình ắc quy vừa mới trộm tại căn nhà bỏ hoang trên.

Đến khoảng 11 giờ 15 phút ngày 03/11/2023, V, H3 mỗi người điều khiển 01 xe đạp điện của gia đình, đem theo 02 bao tải màu trắng đi đến chỗ cất giấu bình ắc quy, dùng tua vít tháo lấy 16 bình ắc quy bỏ vào 02 bao tải màu trắng chở đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến gần tiệm mua bán phế liệu của Phan Thị Tuyết S, V vào hỏi bán bình ắc quy thì S đồng ý mua và cân được 44,8kg. Lúc này, V nói “Con còn một ít nữa, con nhờ bạn chở, nó đang xuống, cô chờ con chút” thì S đồng ý. V ra ngoài đường gọi H3 chở bao đựng bình ắc quy còn lại cân được 37,6 kg và bán với số tiền 1.625.000 đồng. V chia cho H3 số tiền 780.000 đồng, V lấy 805.000 đồng, còn lại 40.000 đồng V và H3 sử dụng mua đồ ăn.

Tang vật tạm giữ: 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu ZHAOXA; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SARUNE; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu XUPAI; 01 (một) bộ bình ắc quy xe máy điện gồm 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SKY - E BATTERY; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 04 (bốn) bình ắc quy hiệu 6-DZM-12; 01 (một) điện thoại di động hiệu APPLE, loại IPHONE XS MAX, màu vàng, số IMEI: 357260099994914 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động hiệu APPLE, loại IPHONE 6S, màu hồng, số IMEI: 355422077995386 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) tua vít dài 26cm, tay cầm bằng nhựa màu đen đỏ; 01 (một) xe đạp điện hiệu SONCO, màu đỏ - đen, số khung: SONCO-2019000526; 01 (một) xe đạp điện, màu đen – đỏ, không rõ nhãn hiệu, số khung: RNKYHDGUMGDE951155 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; tiền mặt: 1.790.000 (một triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu ZHAOXA; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SARUNE; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu XUPAI; 01 (một) bộ bình ắc quy xe máy điện gồm 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SKY - E BATTERY; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 04 (bốn) bình ắc quy hiệu 6-DZM-12; 01 (một) điện thoại di động hiệu APPLE, loại IPHONE XS MAX, màu vàng; 01 (một) điện thoại di động hiệu APPLE, loại IPHONE 6S, màu hồng; 01 (một) xe đạp điện hiệu SONCO, màu đỏ - đen; 01 (một) xe đạp điện, màu đen – đỏ, không rõ nhãn hiệu cho chủ sở hữu tài sản hợp pháp.

Tiếp tục tạm giữ: 01 (một) tua vít dài 26cm, tay cầm bằng nhựa màu đen đỏ; tiền mặt: 1.790.000 (một triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 23/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân; theo Ủy nhiệm chi lập ngày 25/4/2024).

Bản Kết luận định giá tài sản số 35/KL-ĐGTS ngày 08/12/2023 và Kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu ZHAOXA trị giá 1.700.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy xe máy điện gồm 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SKY – E BATTERY trị giá 2.200.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SARUNE trị giá 1.700.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy của xe đạp điện gồm: 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, có kích thước khoảng (10x35x20)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu HITACHI của Võ Thị H trị giá 1.700.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy của xe đạp điện gồm: 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, có kích thước khoảng (10x35x20)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu HITACHI của Nguyễn Phương Q trị giá 1.700.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy của xe đạp điện gồm: 04 (bốn) bình ắc quy hiệu HITACHI của Nguyễn Thị N1 trị giá 2.200.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy của xe đạp điện gồm: 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, có kích thước khoảng (10x35x20)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu XUPAI của Nguyễn Thị T1 trị giá 600.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy của xe đạp điện gồm: 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, có kích thước khoảng (10x35x20)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu XUPAI của Ngô Thị Bích H2 trị giá 1.800.000 đồng; 01 (một) bộ bình ắc quy của xe đạp điện gồm: 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, có kích thước khoảng (10x35x20)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu 6-DZM-12 của Võ Thị Thúy M trị giá 1.500.000 đồng; 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, có kích thước khoảng (10x35x20)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu XUPAI của Lê Thị D1 trị giá 1.450.000 đồng; 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, có kích thước khoảng (10x35x20)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu XUPAI của Nguyễn Thị H1 trị giá 1.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản hai lần định giá là 18.250.000 (mười tám triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Về vật chứng trong vụ án:

  • - Đối với tua vít V và H3 sử dụng làm công cụ để trộm cắp bình ắc quy vào đêm 01/11/2023 tại nhà Nguyễn Thị N1 và đã vứt bỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
  • - Đối với 06 vỏ bình ắc quy Vương và H3 sau khi trộm cắp tháo bỏ tại ngôi nhà bỏ hoang của Ngô Quốc L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
  • - Đối với 12 bình ắc quy mà V và H3 trộm cắp của Lê Thị D1, Ngô Thị Bích H2, Nguyễn Thị T1 sau đó bán cho một người đàn ông mua phế liệu dạo không rõ lai lịch, nhân thân; 12 bình ắc quy trộm cắp của Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Phương Q sau đó mang bán cho Khúc Thị Bé T3, Huỳnh Thị Bích Đ và đã bán lại cho người khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả.

Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường thiệt hại nên không có yêu cầu gì khác.

Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSHA ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn V đã thừa nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về xử lý vật chứng:
    • + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) tua vít dài 26cm, tay cầm bằng nhựa màu đen đỏ là công cụ mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
    • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.790.000 (một triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng do Nguyễn Tấn H3 bán bình ắc quy trộm cắp mà có.
  • - Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V trình bày luận cứ bào chữa: Về tội danh thống nhất như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị hại Lê Thị D1 nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Các bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt cũng không có yêu cầu gì về phần dân sự. Về hình phạt đối với bị cáo, các bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn V không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị hại Trần Thanh C1, Trần Thị Mỹ D, Văn Anh T, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Phương Q, Võ Thị H, Nguyễn Thị H1, Võ Thị Thúy M, Ngô Thị Bích H2, Nguyễn Thị T1; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Thị Tuyết S, Huỳnh Thị Bích Đ, Khúc Thị Bé T3, Nguyễn Văn C2 vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, truy tố đã có đầy đủ lời khai. Sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường; phù hợp với tài sản bị mất đã thu hồi được của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Trong các ngày 31/10/2023, 01/11/2023, 02/11/2023 và 03/11/2023, lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Văn V và Nguyễn Tấn H3 đã cùng thống nhất, nhiều lần lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là bình ắc quy điện của Võ Thị H, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Phương Q, Lê Thị D1, Ngô Thị Bích H2, Võ Thị Thúy M, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H1, Trần Thanh C1, Trần Thị Mỹ D và Văn Anh T với tổng giá trị tài sản là 18.250.000 (mười tám triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Nguyễn Văn V vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã lợi dụng lúc người khác thiếu cảnh giác, tài sản không có người trông coi, quản lý để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật. Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức, do hành vi của Nguyễn Văn V và Nguyễn Tấn H3 chỉ bộc phát nhất thời và không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể trước khi phạm tội. Trong đó, bị cáo V là người khởi xướng việc trộm cắp. H3 sau khi được rủ rê thì cùng thống nhất thực hiện hành vi, giúp sức cho V. Cả hai cùng đóng vai trò là người thực hành. Tuy nhiên, Nguyễn Tấn H3 tại thời điểm trộm cắp tài sản chưa đủ 16 tuổi nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm trên. Nguyễn Văn V cùng Nguyễn Tấn H3 thực hiện chuỗi hành vi trộm cắp tài sản một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian từ ngày 31/10/2023 đến ngày 03/11/2023 với tổng giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 18.250.000 (mười tám triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng, cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức án nghiêm khắc để giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện gia đình của bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại và các bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn V cũng đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, các bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa, bị hại Lê Thị D1 và các bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu ZHAOXA; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SARUNE; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 01 (một) hộp đựng bình bằng nhựa, màu đen, kích thước (11x36x20,5)cm và 04 (bốn) bình ắc quy hiệu XUPAI; 01 (một) bộ bình ắc quy xe máy điện gồm 04 (bốn) bình ắc quy hiệu SKY – E BATTERY; 01 (một) bộ bình ắc quy xe đạp điện gồm 04 (bốn) bình ắc quy hiệu 6-DZM-12; 01 (một) điện thoại di động hiệu APPLE, loại IPHONE XS MAX, màu vàng; 01 (một) điện thoại di động hiệu APPLE, loại IPHONE 6S, màu hồng; 01 (một) xe đạp điện hiệu SONCO, màu đỏ - đen; 01 (một) xe đạp điện, màu đen – đỏ, không rõ nhãn hiệu cho các bị hại là phù hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7.2] Đối với 01 (một) tua vít dài 26cm, tay cầm bằng nhựa màu đen đỏ là công cụ mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7.3] Đối với số tiền 1.790.000 (một triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng do Nguyễn Tấn H3 bán bình ắc quy trộm cắp được mà có nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

[8] Các vấn đề khác:

[8.1] Đối với Nguyễn Tấn H3 (sinh ngày 17/8/2009) tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội chỉ mới 14 tuổi 02 tháng 15 ngày tuổi là chưa đủ 16 tuổi nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự.

[8.2] Đối với Khúc Thị Bé T3, Huỳnh Thị Bích Đ, Nguyễn Văn C2, Phan Thị Tuyết S đã mua các bình ắc quy do Nguyễn Văn V và Nguyễn Tấn H3 bán. Tuy nhiên, Khúc Thị Bé T3, Huỳnh Thị Bích Đ, Nguyễn Văn C2, Phan Thị Tuyết S không biết, V và H3 cũng không nói số bình ắc quy trên là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[8.3] Đối với người đàn ông đã mua 12 bình ắc quy do Nguyễn Văn V bán vào ngày 02/11/2023, quá trình điều tra không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[10] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021;

Căn cứ vào các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) tua vít dài 26cm, tay cầm bằng nhựa màu đen đỏ.
    2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.790.000 (một triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.
    3. (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 23/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân; theo Ủy nhiệm chi lập ngày 25/4/2024).

  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Hoài Ân;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Hoài Ân;
  • - Chi cục THADS huyện Hoài Ân;
  • - Bị cáo, người bào chữa;
  • - Bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hồng Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger