TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HSST
Ngày: 11/01/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh T và bà Trần Thị O
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Trần N – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/01/2024, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 413/2023/HSST ngày 18/12/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1987; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: 9B, khu phố A, phường A, TP B, tỉnh Đồng Nai.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Nguyễn H và bà Nguyễn Thị Kim H1
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tạm giữ từ ngày 03/10/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H - Có mặt
Bị hại:
1. Trường THPT T – Do bà Nguyễn Thị H2 – Hiệu trưởng - Đại diện theo pháp luật – Vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn N1 – Hiệu phó
Địa chỉ: Đường S, phường T, quận B, Hà Nội.
2. Trường THCS N3 – Do bà Hoàng Thị Y – Hiệu trưởng- đại diện theo pháp luật – Vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H3 – Hiệu phó
Địa chỉ: Tổ dân phố số C, phường X, quận N, Hà Nội.
3. Trường THCS T1 – Do bà Nguyễn Thị H4 – Hiệu trưởng - Đại diện theo pháp luật – Vắng mặt.
Địa chỉ: Đường T, phường T, quận N, Hà Nội
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Đình H5, sinh năm 1984 – Vắng mặt.
Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố số F, phường N, quận L, Hà Nội.
Nơi cư trú: Số A khu D, ngách B ngõ E M, V, quận H, Hà Nội.
2. Anh Nguyễn Văn H6, sinh năm 1996 – Vắng mặt.
Nơi ĐKNKTT: Thôn T, TT P, huyện P, Hà Nội.
Nơi cư trú: Số L, khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội.
3. Anh Tôn Khánh D, sinh năm 1984 – Vắng mặt.
Nơi ĐKNKTT: Xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Số H, ngõ F, N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận N thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Trong các ngày từ 09/9/2023 đến ngày 29/9/2023, Nguyễn Hoàng Trọng N2 đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn các quận N và B, Hà Nội, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 09/9/2023,tại trường THPT T (địa chỉ: đường S, phường T, quận B, Hà Nội) Nguyễn Hoàng N2 đã có hành vi trộm cắp 01 máy chiếu nhãn hiệu OPTOMA X312 màu đen và 01 máy chiếu nhãn hiệu BenQ MX550 màu trắng của trường THPT T. Sau đó, bị cáo đem bán cho anh Nguyễn Đình H5 sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ dân phố số F, phường N, quận L, Hà Nội được 2.000.000đ. Bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết số tiền. Giá trị tài sản trộm cắp theo định giá là 4.000.000đ.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 27/9/2023, tại trường THCS N3 (địa chỉ: TDP số C, phường X, quận N, Hà Nội), Nguyễn Hoàng N2 đã có hành vi trộm cắp 01 máy chiếu đa năng NEC LAMP TYPE NP41LP; Model: MC371X màu trắng. Sau đó bị cáo đem bán cho anh Nguyễn Văn H6, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn T, TT P, huyện P, Hà Nội được 2.000.000đ. Bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết số tiền. Giá trị tài sản trộm cắp theo định giá là 2.000.000₫
Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 29/09/2023, tại trường THCS T1 (đường T, phường T, N, Hà Nội), Nguyễn Hoàng N2 đã có hành vi trộm cắp 01 đầu máy chiếu nhãn hiệu OPTOMA PJ639S, màu đen và 01 đầu máy chiếu hiệu HITACHI – CP X3542 WNEF màu trắng. Sau đó bị cáo đem bán cho anh Tôn Khánh D, sinh năm 1984, địa chỉ: Số H, ngõ F, N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội được 2.100.000đ. Bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết số tiền. Giá trị tài sản trộm cắp theo định giá là 7.000.000đ.
Tổng trị giá tài sản H7 đã trộm cắp 03 vụ theo định giá là 13.000.000đ.
Tại bản cáo trạng số 415/CT-VKSNTL ngày 30/11/2023 của VKSND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTDS. Điều 584, 585, 589 BLDS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền cụ thể như sau: Bồi thường cho anh H5 2.000.000đ, anh H6 2.000.000đ, anh D 2.100.000đ. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu S J6. Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu đen xanh, có qui đeo, kích thước khoảng 40cmx60cm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 414 ngày 30/11/2023 của VKSND quận Nam Từ Liêm đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra những người bị hại đã có lời khai thể hiện: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về hình phạt đề nghị xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền họ đã bỏ ra mua tài sản nay họ tự nguyện nộp lại để trả cho người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Trong các ngày từ 09/9/2023 đến ngày 29/9/2023, Nguyễn Hoàng N2 đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn các quận N và B, Hà Nội, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 09/9/2023,tại trường THPT T (địa chỉ: đường S, phường T, quận B, Hà Nội) Nguyễn Hoàng N2 đã có hành vi trộm cắp 01 máy chiếu nhãn hiệu OPTOMA X312 màu đen trị giá 2.000.000đ và 01 máy chiếu nhãn hiệu BenQ MX550 màu trắng trị giá 2.000.000đ của trường THPT T. Tổng trị giá tài sản là 4.000.000₫.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 27/9/2023, tại trường THCS N3 (địa chỉ: TDP số C, phường X, quận N, Hà Nội), Nguyễn Hoàng N2 đã có hành vi trộm cắp 01 máy chiếu đa năng NEC LAMP TYPE NP41LP; Model: MC371X màu trắng trị giá 2.000.000₫ của trường THCS N3.
Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 29/09/2023, tại trường THCS T1 (đường T, phường T, N, Hà Nội), Nguyễn Hoàng N2 đã có hành vi trộm cắp 01 đầu máy chiếu nhãn hiệu OPTOMA PJ639S, màu đen trị giá 4.000.000đ và 01 đầu máy chiếu hiệu HITACHI – CP X3542 WNEF màu trắng trị giá 3.000.000đ của trường THCS T1.
Tổng trị giá tài sản H7 đã trộm cắp 03 vụ theo định giá là 13.000.000đ.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng nhiều lần phạm tội trong một thời gian ngắn. Bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ phân tích và nhận định trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã một thời gian nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền, cụ thể như sau: Bồi thường cho anh H5 2.000.000đ, anh H6 2.000.000đ, anh D 2.100.000đ.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu 01 điện thoại di động; Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu đen xanh, có qui đeo, kích thước khoảng 40cmx60cm.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47, 48 BLHS; Điều 584, 585, 589 BLDS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng N2 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền, cụ thể như sau: Bồi thường cho anh Nguyễn Đình H5 2.000.000đ, anh Nguyen Văn H8 2.000.000đ, anh Tôn Khánh D 2.100.000đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không chịu thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6 màu tím Imei 1: 358465092145658, Imei 2: 358465092145656, tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu đen xanh, có qui đeo, kích thước khoảng 40cmx60cm. (Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 80 ngày 01/12/2023 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận N).
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST và 305.000đ tiền án phí DSST.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 19/2024/HSST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 19/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng N phạm tội "“Trộm cắp tài sản”
