Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 10 - 5 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hoa- Giáo viên nghỉ hưu
  2. Bà Nguyễn Thị Giang- Chủ tịch Hội chữ thập đỏ huyện Phù Ninh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Đàm Chuyên - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Quang V, sinh ngày: 14 tháng 06 năm 2006, tại: tỉnh Phú Thọ; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 7 tháng 20 ngày. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở : Khu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P Sinh năm 1970 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân:
    • Ngày 21/07/2020, bị Công an thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
    • Ngày 02/08/2020, bị Công an thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
    • Ngày 19/02/2023, bị Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53 về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mức phạt 1.250.000 đồng.
    • Ngày 20/07/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xử phạt 20 (hai mươi) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 46/2023/HS-ST. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 04/10/2022 đến ngày 13/10/2022). Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023,

Bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang chấp hành Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 tại Trại giam S, Cục C, Bộ C1., có mặt;

  • Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1948; địa chỉkhu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có mặt;
  • Người bào chữa: Bà Bùi Thị Thanh N- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Phú Thọ, có mặt;
  1. Nguyễn Quang H, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2006 tại tỉnh Phú Thọ; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 9 tháng 22 ngày. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu G, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Việt H1, sinh năm 1984 và bà Lê Thị Thanh M, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 30/10/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 149/2023/HS-ST. Hiện bị can đang chấp hành án theo Quyết định thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo số 58/QĐ-CA ngày 28/12/2023 của TAND huyện Phù Ninh.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; hiện bị áp dụng biện pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát từ ngày 19/01/2024 đến nay. (có mặt)

  • Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Thanh M, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu G, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có mặt;
  • Người bào chữa: Bà Bùi Thị Thanh N- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Phú Thọ, có mặt
  1. Nguyễn Văn N1, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2004 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân:
    • Ngày 11/04/2023 bị Công an huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64 về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mức phạt 2.500.000 đồng.
    • Ngày 20/07/2023 Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Văn N1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 46/2023/HS-ST. N1 đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ theo Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ số 16 ngày 29/8/2023 của TAND huyện Phù Ninh kể từ ngày 30/8/2023.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/01/2024 đến nay. (có mặt)

Bị hại: Cháu Nguyễn Thanh T1, sinh năm 2019; người đại diện hợp pháp cho cháu T1: Ông Nguyễn Hồng T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/02/2023, Nguyễn Quang V - sinh ngày 14/6/2006, thường trú tại khu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ cùng Nguyễn Trung T4 - sinh ngày 20/8/2005, thường trú tại khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đi đến nhà của Lê Quang H3 - sinh ngày 12/4/2006, thường trú tại khu G, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ để chơi. Sau đó V, H3 và T4 rủ nhau đi bắn chim tại khu vực cánh đồng thuộc khu A, xã T. Bắn chim được một lúc thì V rủ H3 và T4 đi xem nhà ai sơ hở thì lấy tài sản, sau khi chiếm đoạt được tài sản thì đem bán lấy tiền tiêu sài chung, H3 và T4 đều đồng ý. Cả ba cùng nhau đi bộ đến khu vực phía trước nhà ông Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1964, thuộc khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Viên, H3 và T4 đứng ở đường bê tông gần cổng nhà ông T3, từ vị trí này nhìn vào phía trong nhà ông T3 thì bị khuất tầm nhìn nên V đi về phía trước nhìn qua bờ rào thì thấy phía trong nhà có nhiều trẻ con, không thấy có người lớn ở nhà, V tiếp tục đi vào trong sân cách cổng khoảng 02m quan sát thấy phía trong phòng khách có cháu nhỏ đang cầm điện thoại. Thấy vậy, V quay ra cổng nói với H3 và T4: “Trong nhà chỉ có mấy đứa trẻ con không có người lớn”, rồi rủ H3 và T4 cùng vào xin nước để xem chính xác có người lớn ở nhà hay không. Lúc này T4 từ chối tham gia vì thấy nhà ông T3 gần khu nhà mình nên sợ bị phát hiện, T4 nói “Tao bị đau chân không vào đâu”. Thấy T4 từ chối, H3 cùng V đi về phía cổng nhà ông T3 đứng sát mép tường bên phải (T4 vẫn đứng ở vị trí ban đầu, không đi cùng H3 và V) để quan sát. Tại vị trí này, V bàn bạc với H3: “Nếu không có người lớn ở nhà thì hỏi mấy đứa trẻ con cho mượn điện thoại để T4 gọi về cho mẹ”. Sau đó, V và H3 đi vào phía trong nhà xin nước. Cả hai đứng dưới sân trước khu vực bếp thì gặp cháu Nguyễn Thu H4 - sinh ngày 26/01/2012, nơi thường trú khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đứng ở cửa bếp. H3 xin nước của H4, còn V đi ra vị trí T4 đứng ban đầu bảo T4 đi vào rửa chân đồng thời nói với T4 “Anh vào anh bảo anh bị ngã xe để cho H3 mượn điện thoại”. T4 thấy chân mình bị bẩn do trước đó đi bắn chim nên đi thẳng vào vị trí vòi nước ở sân đối diện cửa ngách theo lối mép tường bên phải (hướng từ ngoài nhìn vào). Lúc này cháu Hà Quốc Đ - sinh ngày 05/9/2010, nơi thường trú khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang đứng ở cửa ngách, H3 đứng ở dưới sân, V đứng dưới sân phía trước T4. H3 chỉ ra chỗ T4 đứng bảo Đ: “Cho anh này mượn điện thoại để anh gọi mẹ đến đón”. Đ trả lời: “Điện thoại em hết tiền”. T4 nghe vậy không nói gì, rửa chân xong T4 đi ra và ngồi ở ven đường phía trước cổng, mặt hướng ra cánh đồng, lưng quay về phía cổng. Đ biết T4 là anh trai của bạn học cùng lớp, thấy T4 đi ra ngoài cổng ngồi nên đi đến ngồi cùng T4 nói chuyện. Ngồi khoảng 2-3 phút thì Đ đi vào trong nhà.

Sau khi thấy T4 và Đ đi ra ngoài cổng, thì H3 đi vệ sinh, V đứng dưới bếp ngó lên phòng khách thì thấy cháu Nguyễn Thanh T1 - sinh ngày 22/6/2019 (khi đó mới được 03 tuổi 08 tháng 12 ngày), nơi thường trú khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang nằm ở ghế dài tại phòng khách chơi trò chơi trên điện thoại. V gọi H3 cùng đi lên phòng khách, H3 đứng ở gần chân cầu thang, V đứng gần bàn uống nước. Lúc này H4 đang ở gần ghế đơn phía trong, còn T1 nằm ở ghế dài gần bàn uống nước trong phòng khách. H3 hỏi H4 xin giấy vệ sinh, mục đích đánh lạc hướng của H4 để cho V có thời gian tiếp cận T1 chiếm đoạt chiếc điện thoại mà T1 đang cầm. Sau khi H4 đi lên tầng 2 để lấy giấy vệ sinh cho H3, thì V nói với T1: “Chơi game gì thế đưa anh bắn hộ cho”, T1 đưa cho V chiếc điện thoại cảm ứng màu đen. Viên cầm được điện thoại liền đi lại chỗ H3 đứng và nói: “Chạy”, rồi V bỏ chạy. Thấy V đã lấy được điện thoại và bỏ chạy, H3 cũng chạy theo. V chạy ra đến cổng thì hô “Chạy, chạy”. T4 nghe thấy hô liền chạy theo V, H3 chạy phía sau T4. Cả ba bỏ chạy được khoảng 01 km thì V lấy chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được từ trong túi quần ra cho H3 và T4 xem, kiểm tra xác định chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được là điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy màu đen, không có khóa màn hình, có vỏ ốp lưng màu vàng, Viên tháo và vứt chiếc vỏ ốp lưng đi. Khoảng 10 phút sau, H3 và T4 bị người dân đuổi kịp giữ lại và đưa về trụ sở công an làm việc, riêng V bỏ chạy thoát còn chiếc điện thoại trên Viên ném vào vườn nhà dân gần đó.

Sau khi bỏ chạy thoát, V có kể lại việc chiếm đoạt chiếc điện thoại trên cho Nguyễn Văn N1 - sinh ngày17/9/2004, thường trú tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ nghe. Đến khoảng 18 giờ ngày 06/02/2023, V rủ N1 cùng đi tìm và thấy chiếc điện thoại nêu trên. Viên bật nguồn lên thì thấy chớp màn hình rồi điện thoại tắt hẳn. Viên cùng N1 cầm chiếc điện thoại trên về nhà N1 thì có Nguyễn Tiến V1 - sinh ngày 28/12/2007, thường trú tại khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ đến chơi, V nhờ N1 mang chiếc điện thoại trên đi bán để cùng nhau tiêu xài. N1 đồng ý và rủ V1 đi cùng. N1 nói cho V1 biết điện thoại này do V ăn trộm mà có, đi bán xem được năm trăm nghìn đồng không, V1 đồng ý. N1 và V1 mang chiếc điện thoại trên đến quán điện thoại của anh Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1984, thuộc khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ bán được 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Trên đường về, V1 bảo N1 đổ cho 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) tiền xăng. N1 đồng ý và trả 20.000 đồng mua xăng, còn lại 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng) N1 đưa lại cho V, rồi V và N1 cùng tiêu xài hết số tiền trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 16 ngày 27/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện P kết luận:

“- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s, màu đen, sản xuất năm 2019, số kiểu máy: SM-A207F/DS, IMEI (khe 1): 353246114387352, máy đã qua sử dụng, thời điểm định giá tháng 02/2023 có trị giá là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)."

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tạm giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s, màu đen, sản xuất năm 2019, số kiểu máy: SM-A207F/DS, IMEI (khe 1): 353246114387352, máy đã qua sử dụng do anh Nguyễn Văn H2 tự nguyện giao nộp. Cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm chiếc ốp lưng điện thoại nhưng không tìm thấy. Mặt khác, chiếc ốp điện thoại đã bị rách, không còn giá trị sử dụng nên không có cơ sở để định giá.

Tại Cơ quan CSĐT Nguyễn Quang V, Lê Quang H3, Nguyễn Văn N1 cùng các đối tượng liên quan khai nhận hành vi như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 14/CT-VKSPN ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh truy tố bị can Nguyễn Quang V, Nguyễn Quang H về tội: “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; bị can Nguyễn Văn N1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Đối với bị cáo Nguyễn Quang V: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điển o khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt V từ 40 đến 45 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 của TAND huyện Lâm Thao xử phạt bị cáo V 20 (hai mươi) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 60 tháng tù đến 65 tháng tù. Bị cáo được trừ đi thời gian đã chấp hành hình phạt tù của Bản án sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 của TAND huyện Lâm Thao từ ngày 13/12/2023 đến ngày 09/5/2024 và thời gian tạm giữ từ ngày 04/10/2022 đến ngày 13/10/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Đối với bị cáo Lê Quang H3: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo H3 từ 36 đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Đối với Bản án số 149/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo H3 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo đang chấp hành án theo Quyết định thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo số 58/QĐ-CA ngày 28/12/2023 của TAND huyện Phù Ninh. Bị cáo thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” trước khi được hưởng án treo nên thì không tổng hợp hình phạt của Bản án số 149/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Buộc bị cáo H3 phải đồng thời chấp hành 02 bản án. UBND xã A, huyện P có trách nhiệm thông báo cho trại giam, trại tạm giam, Cơ quan THAHS công an cấp huyện nơi đang quản lý người chấp hành án biết. Việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn N1: Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Văn N1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Văn N1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành án CTKGG từ ngày 30/8/2023. Tính đến ngày 10/5/2024, bị cáo đã chấp hành được 08 tháng 10 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 20 ngày cải tạo không giam giữ, quy đổi 3 ngày cải tạo không giam giữ bằng 1 ngày tù. Bị cáo còn phải chấp hành 6,7 ngày tù (làm tròn 06 ngày tù). Buộc bị cáo N1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 09 tháng 06 ngày tù đến 12 tháng 06 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

+ Hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Bị cáo V, H3 đều chưa đủ 18 tuổi, cho nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với V và H3.

Tại khoản 5 Điều 323 BLHS quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Qua xác minh bị cáo N1 không có tài sản gì có giá trị nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với N1.

-Về xử lý vật chứng: Ngày 08/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả cho ông Nguyễn Văn T3 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s, màu đen là phù hợp. Ông T3 không có yêu cầu gì khác.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang V và Lê Quang H3: Đồng ý với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát với điều luật và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Kiểm sát viên đề nghị. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo V, bị cáo H3 đến mức thấp nhất do bị cáo V và H3 dưới 18 tuổi nên áp dụng đối với 02 bị cáo này mức hình phạt áp dụng cho người dưới18 tuổi phạm tội để đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ 02 bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của các bị cáo là sai và đã phạm tội, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt: Xét thấy tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ đã thể hiện đầy đủ lời khai, quan điểm của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên họ có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Về nội dung:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với hiện trường nơi xảy ra vụ việc là các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/02/2023, tại gia đình nhà ông Nguyễn Văn T3 thuộc khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quang V, Lê Quang H3 dùng thủ đoạn gian dối để người quản lý tài sản là cháu Nguyễn Thanh T1 (mới hơn 03 tuổi) chuyển giao chiếc điện thoại đang quản lý cho V, sau đó bị cáo lợi dụng sơ hở để nhanh chóng tẩu thoát nhằm chiếm đoạt điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s, màu đen trị giá 1.500.000 đồng. Nguyễn Văn N1 mặc dù biết rõ điện thoại do V và H3 phạm tội mà có, nhưng sau khi được V nhờ vả đã đem bán điện thoại cho anh Nguyễn Văn H2 được 200.000 đồng. Số tiền bán được điện thoại các bị cáo đã tiêu xài hết. Tài sản cướp giật đã được thu hồi và trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Quang V, Lê Quang H3 đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 171 của Bộ luật hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn N1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:

“Điều 171. Cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khỏc, thỡ bị phạt tự 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong cỏc trường hợp sau đõy, thỡ bị phạt tự từ 03 năm đến 10 năm:

...g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là cú thai, người già yếu hoặc người khụng cú khả năng tự vệ;”

Điều 323 Bộ luật hỡnh sự quy định:

“Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiờu thụ tài sản do người khỏc phạm tội mà cú

1. Người nào khụng hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiờu thụ tài sản biết rừ là do người khỏc phạm tội mà cú, thỡ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo khụng giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tự từ 06 thỏng đến 03 năm”.

[3].Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến khách thể là tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo đều đủ tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên các bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo V là người thực hành, bị cáo H3 là người giúp sức tích cực nên căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt. Tuy nhiên trong vụ án này có bị cáo V, H3 là người dưới 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi, cho họ hưởng mức hình phạt thấp hơn người đủ 18 tuổi phạm tội là phù hợp.

Các bị cáo Nguyễn Quang V trong năm 2020 và 2023 đã bị xử phạt hành chính 03 lần và năm 2023 đã bị kết án về loại tội chiếm đoạt tài sản và bị xử phạt tù tuy không tính là án tích nhưng coi là có nhân thân; Lê Quang H3 năm 2023 đã bị kết án về tội Gây rối trật tự công cộng, tuy là hành vi thực hiện sau nhưng cũng coi là có nhân thân; Bị cáo Nguyễn Văn N1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính, năm 2023 đã bị Tòa án kết tội về tội “Trộm cắp tài sản” tuy cũng là hành vi thực hiện sau nhưng coi là có nhân thân. Các bị cáo chỉ vì muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên đã dẫn đến hành vi cướp giật tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với bị cáo H3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với bị cáo V và bị cáo N1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự .

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, các bị cáo đều đã bị xử phạt ở vụ án khác nên lần này phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết vì xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa đối với các bị cáo. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cho bị cáo Nguyễn Quang V, Lê Quang H3 là người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất, cụ thể là không quá ¾ mức hình phạt áp dụng cho người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng là phù hợp.

Do bị cáo V đang thi hành hình phạt 20 tháng tù của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao nên cần tổng hợp hình phạt chung của hai bản án nên căn cứ vào khoản 1 điều 56 Bộ luật hình sự Tổng hợp với hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 của TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 60 (Sáu mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/5/2024 được trừ thời gian đã thi hành án từ ngày 13/02/2023 đến ngày 09/5/2024 và trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/10/2022 đến ngày 13/10/2022 của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 của TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo Nguyễn Quang H đang trong thời gian thử thách của bản án số 149/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì lại bị xét xử về hành vi phạm tội trước khi có bản án này nên căn cứ vào khoản 2 điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đó không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo, trong trường hợp này bị cáo phải đồng thời chấp hành hai bản án.

Bị cáo N1 đang thi hành hình phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao nên cần tổng hợp hình phạt chung của hai bản án.Tổng hợp hình phạt của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 củaTòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Văn N1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành án cải tạo không giam giữ từ ngày 30/8/2023. Tính đến ngày 10/5/2024, bị cáo đã chấp hành được 08 tháng 10 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 20 ngày cải tạo không giam giữ, quy đổi 3 ngày cải tạo không giam giữ bằng 1 ngày tù. Bị cáo còn phải chấp hành 6,7 ngày tù (làm tròn 06 ngày tù). Buộc bị cáo N1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 09 tháng 06 ngày tù đến 12 tháng 06 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Bị cáo V, H đều chưa đủ 18 tuổi nên theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự thì không áp dụng hình phạt bổ sung đối với VH.

Tại khoản 5 Điều 323 BLHS quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Qua xác minh bị cáo N1 không có tài sản gì có giá trị nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với N1 là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.

[5].Về vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả cho ông Nguyễn Văn T3 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s, màu đen là phù hợp. Ông T3 không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[6].Về các vấn đề khác:

  • Đối với Nguyễn Trung T4:
  • Ban đầu T4 có tham gia bàn bạc với Nguyễn Quang V và Lê Quang H3 về việc chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, khi đến trước cổng nhà của ông T3, T4 đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Vì vậy T4 không đồng phạm với V và H3 trong việc cướp giật điện thoại nêu trên. Mặt khác, ngay sau khi biết Viên chiếm đoạt được tài sản thì T4 đã bị người dân giữ lại, đưa đến trụ sở công an xã để làm việc. Vì vậy T4 không có điều kiện để tố giác tội phạm. Do đó, hành vi của T4 không phạm vào tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 BLHS.

  • Đối với Nguyễn Tiến V1: Dù không hứa hẹn trước với Nguyễn Quang V, nhưng V1 biết rõ nguồn gốc chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s, màu đen là do V chiếm đoạt được của người khác mà có. Ngày 06/02/2023 V1 vẫn cùng Nguyễn Văn N1 mang đi bán và sử dụng tiền bán được để tiêu xài. Tuy nhiên thời điểm vi phạm, Nguyễn Tiến V1 mới 14 tuổi 03 tháng 06 ngày. Căn cứ Điều 12 BLHS, hành vi của Nguyễn Tiến V1 không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Ngày 22/01/2024, Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tiến V1 bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
  • Đối với anh Nguyễn Văn H2 không biết chiếc điện thoại mà Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Tiến V1 mang bán là do người khác phạm tội mà có, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là phù hợp.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, hình phạt, xử lý vật chứng, án phí là phù hợp.

[7].Về án phí: Các bị cáo: Nguyễn Quang V, Lê Quang H3Nguyễn Văn N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 56, Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Quang V.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 56, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Quang H3.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Điều 56; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn N1

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V, Lê Quang H3 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 40 (bốn mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 của TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 60 (Sáu mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/5/2024, bị cáo được trừ thời gian đã thi hành án từ ngày 13/02/2023 đến ngày 09/5/2024 và trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/10/2022 đến ngày 13/10/2022 của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 của TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
    • Xử phạt bị cáo Lê Quang H3 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    Buộc bị cáo H3 phải đồng thời chấp hành Bản án số 149/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    • Xử phạt Nguyễn Văn N1 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 46/2023/HS-ST ngày 20/07/2023 củaTòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Văn N1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Tính đến ngày 10/5/2024, bị cáo đã chấp hành được 08 tháng 10 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 20 ngày cải tạo không giam giữ, được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỉ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù. Bị cáo còn phải chấp hành 6,7 ngày tù (làm tròn 06 ngày tù). Buộc bị cáo N1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 12 (mười hai) tháng 06 (sáu) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Quang V, Lê Quang H3Nguyễn Văn N1.

  2. Về xử lý vật chứng:
  3. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả cho ông Nguyễn Văn T3 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s, màu đen. Ông T3 không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Buộc các bị cáo: Nguyễn Quang V, Lê Quang H3Nguyễn Văn N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • VKSND huyện, tỉnh;
  • Công an huyện;
  • Trại tạm giam;
  • Sở tư pháp;
  • Các bị cáo và người đại diên hợp pháp;
  • Bị hại, người có quyền lợi nghiã vụ liên quan;
  • THAHS, Chi cục THADS huyện;
  • Lưu hồ sơ;
  • Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lý Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội cướp giật tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang V và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger