|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HOA
Bản án số: 19/2024/HSST Ngày 09-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Sơn; 2. Ông Nguyễn Xuân Ký.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 9/8/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đặng Viết Đ (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 15/01/1962 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 01/10; Con ông: Đặng Viết S (Đã chết) và bà: Lê Thị N (Đã chết); Gia đình có 10 anh, chị, em. Bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, Thanh Hóa; Bị can có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Thị T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 14/7/1985 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Con ông: Lê Văn C1 – Sinh năm: 1964 và bà: Nguyễn Thị Q1 - Sinh năm: 1962; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai. Họ và tên chồng: Cao Xuân P, sinh năm: 1982. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
3. Trương Ngọc T1 (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01/5/1985 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông: Trương Ngọc Q2 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L – sinh năm: 1960; Gia đình bị cáo có sáu anh em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Họ tên vợ: Lê Thị N1 – sinh năm: 1988, bị cáo có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 15/11/1971 tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 02/12; Con ông: Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà: Vũ Thị L1 (đã chết); Gia đình bị cáo có sáu anh chị em. Bị can là con út trong gia đình. Họ tên vợ: Lò Thị T3 – Sinh năm: 1979. Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2005.
Tiền án, Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/12/2012 bị công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã chấp hành; Ngày 28/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng (Bản án số 07/2018/HSST), đã chấp hành xong và được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
5. Trương Ngọc T4 (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 23/4/1984 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Con ông: Trương Ngọc T5 (đã chết) và bà: Bùi Thị H1 – sinh năm: 1962; Gia đình bị cáo có năm anh em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Họ và tên vợ: Lê Thị X – Sinh năm: 1985. Bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm, 2010, nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
6. Nguyễn Ngọc T6 (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 10/01/1963 tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/10; Con ông: Nguyễn Ngọc L2 (đã chết) và bà Phạm Thị C2 (đã chết). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị L3 – sinh năm: 1963, bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1994.
Tiền án, Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/12/2012, bị công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 03/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội Đánh bạc (Bản án số 45/2014/HSST), đã chấp hành và được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
7. Nguyễn Văn H2; Sinh ngày 23/02/1994 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Tuấn A – sinh năm: 1971 và bà: Lê Thị N2 – sinh năm: 1972; Bị cáo có vợ là Vi Thị H3 – sinh năm: 2000.
Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
8. Đặng Viết H4 (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 10/7/1992 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông: Đặng Viết Đ – sinh năm: 1962 và bà: Nguyễn Thị Q – sinh năm: 1964; Gia đình bị cáo có ba anh em. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ con: Chưa có.
Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 02/3/2024. Sau đó bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
9. Lê Thị Á (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 09/02/1959 tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 01/12; Con ông: Lê Khắc T7 (đã chết) và bà: Phạm Thị N3 (đã chết); Gia đình bị cáo có tám anh, chị, em. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Họ và tên chồng: Hồ Văn Q3 - sinh năm: 1957. Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1983.
Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn L4 – sinh 1990. (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T8 – sinh 1989.
Cùng trú tại: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 26/02/2024, Đặng Viết Đ, sinh năm 1962, ở thôn L, xã T đang ở nhà thì có Lê Thị T, sinh năm 1985, Nguyễn Văn H, sinh năm 1971 và Trương Ngọc T4, sinh năm 1984 ở cùng thôn đến chơi. Trong lúc ngồi chơi uống nước tại nhà Đ, H có bảo “Làm tí không” (ý muốn nói đánh xóc đĩa ăn tiền) thì cả 04 người đồng ý, vào gian bếp nhà Đ lấy bát đĩa sứ có sẵn, T4 cắt 04 “quân vị” từ vỏ bao thuốc lá làm công cụ để cả bọn cùng đánh bạc. Khi bắt đầu đánh bạc, Đ thu tiền chiếu của H, T4, T được 150.000 đồng rồi sử dụng luôn để đánh bạc, ban đầu Đông trực tiếp cầm cái, xóc đĩa, cân cửa chẵn lẻ để các con bạc đặt cửa, trực tiếp ăn thua với các con bạc khác.
Cả bọn đánh bạc được một lúc thì Lê Thị Á, sinh năm 1959; Nguyễn Văn H2, sinh năm 1994; Trương Ngọc T1, sinh năm 1985; Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1963 cùng trú tại thôn L, xã T và Đặng Viết H4, sinh năm 1992 (là con trai Đ) cũng lần lượt đến, tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc, các con bạc Ái, T4, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 do thua hết tiền nên nghỉ trước; còn Đặng Viết Đ cũng bị thua mất nhiều tiền nên chuyển cho T1 cầm cái, ăn thua với các con bạc khác. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc Đ, H, T, T1, T6 đang sát phạt nhau trên chiếu bạc thì bị lực lượng Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 4.200.000 đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn được cắt ra từ vỏ bao thuốc lá T10. Ngoài ra qua kiểm tra, lực lượng công an còn thu giữ được số tiền 1.700.000 đồng trên người Đặng Viết Đ, 3.150.000 đồng trên người Nguyễn Văn H, 1.620.000 đồng trên người Lê Thị T và 3.000.000 đồng trên người Nguyễn Ngọc T6. Các đối tượng Nguyễn Văn H2, Trương Ngọc T4, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á không bị bắt giữ nhưng sau đó Nguyễn Văn H2, Trương Ngọc T4, Đặng Viết H4 đã lần lượt ra đầu thú, còn Lê Thị Á do sức khỏe yếu, Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập để làm việc theo quy định.
Quá trình điều tra các bị cáo xác định đã đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh xóc đĩa ăn tiền, mức cược tối thiểu từ 30.000 đồng, mức tối đa do người cầm cái quyết định với từng con bạc. Hình thức đánh xóc đĩa tức là những người chơi bạc sử dụng 04 “quân vị” hình tròn, có hai mặt “Trắng” và “Vàng” và bộ B sứ làm công cụ đánh bạc. Trong mỗi ván chơi, người cầm cái cho các quân vị vào trong bộ bát đĩa để xóc, rồi phân thành các cửa chẵn, lẻ, quy định mức tiền cược để các con bạc đặt cược; sau đó người cầm cái sẽ mở bát, xác định thắng thua theo trạng thái của các quân vị, nếu có 03 quân mặt vàng, 01 quân mặt trắng hoặc ngược lại là cửa lẻ sẽ thắng, nếu 04 quân vị có 02 mặt trắng, 02 mặt đen hoặc 04 mặt trắng hoặc 04 mặt đen thì cửa chẵn sẽ thắng.
Về số tiền đánh bạc, quá trình điều tra xác định ngoài số tiền thu giữ trên chiếu bạc, thì số tiền thu giữ trên người các bị cáo Đ, H, T, T1 khi bắt quả tang và trong quá trình làm việc với CQĐT đều khai nhận sử dụng số tiền dùng vào đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc được xác định là 13.670.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 chiếc đĩa sứ đã bị vỡ; 01 bát sứ; 04 “quân vị” hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá T10;
- Số tiền 13.670.000 đồng, bao gồm 4.200.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 9.470.000 đồng thu giữ trên người Đặng Viết Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T1.
Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSNX ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo: Đặng Viết Đ, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T4, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: các bị cáo Đặng Viết Đ, Nguyễn Văn H, Lê Thị T, Nguyễn Ngọc T6, Trương Ngọc T4, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4, Lê Thị Á phạm tội Đánh bạc.
- Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điều 17, điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị phạt Đặng Viết Đ từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điều 17, điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị phạt Nguyễn Văn H từ 10 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 20 tháng đến 24 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điều 17, điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị phạt Nguyễn Ngọc T6 từ 8 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 16 tháng đến 20 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điều 17, điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị phạt Trương Ngọc T1, Lê Thị T từ 6 tháng đến 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điều 17, điều 58, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị phạt Trương Ngọc T4 từ 06 tháng đến 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điều 17, điều 58, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS đề nghị phạt Đặng Viết H4, Nguyễn Văn H2 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điều 17, điều 58, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS đề nghị phạt Lê Thị Á từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS tịch thu sung công số tiền 13.670.000 đồng (Mười ba triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) và tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc đĩa sứ đã bị vỡ, 01 bát sứ, 04 quân vị hình tròn được cắt từ bao thuốc lá T10. Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của đại diện VKS. Lời nói sau cùng các bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của các bị cáo thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:
Xuất phát từ động cơ nhằm thu lợi bất chính nên vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/02/2024, tại nhà Đặng Viết Đ ở thôn L, xã T, huyện N các đối tượng Đặng Viết Đ, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T4, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á đã cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc Đ và các đồng phạm đang sát phạt nhau trên chiếu bạc thì bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền đánh bạc được xác định là 13.670.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Đặng Viết Đ, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T4, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.
[4] Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án hình sự ít nghiêm trọng, có tính chất đồng phạm giản đơn do Đặng Viết Đ và đồng phạm thực hiện. Trong đó, Đ là chủ nhà, sử dụng nơi ở của mình cho người khác đánh bạc và cùng tham gia trực tiếp đánh bạc, thu tiền hồ, cầm cái, ăn thua với các con bạc nên có vai trò thứ nhất; tiếp đến là các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Thị T, Trương Ngọc T4 là những người đánh bạc từ đầu, cùng với Trương Ngọc T1 là người đến sau nhưng có thời gian trực tiếp cầm cái, ăn thua với các con bạc nên có vai trò nhóm thứ hai; các bị caó Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4, Lê Thị Á tham gia đánh bạc sau, có thời gian đánh bạc ít hơn nên có vai trò nhóm thứ 3 trong vụ án nên cần xem xét cụ thể vai trò của từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt cho tương xứng với hành vi của từng bị cáo.
[5] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải giúp Cơ quan tố tụng giải quyết nhanh chóng vụ án nên tất cả các bị cáo cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đặng Viết Đ, Lê Thị T, Trương Ngọc T4, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Văn H2, Trương Ngọc T4, Đặng Viết H4 sau khi phạm tội đã ra “Đầu thú”; các bị cáo Trương Ngọc T1 và Nguyễn Văn H2 còn có đóng góp mỗi bị cáo 2.000.000đ cho quỹ làm nhà cho người nghèo ở địa phương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Ngọc T6 tuy có quá trình nhân thân từng bị xử lý hành chính và hình sự, nhưng thời gian xảy ra đã lâu, đã được xóa án tích và được coi là chưa bị xử lý hành chính. Mặt khác, từ sau khi phạm tội đến nay các bị cáo chấp hành đường lối pháp luật tốt tại địa phương, có tinh thần cộng đồng đã ủng hộ mỗi bị cáo 3.000.000 đồng cho Q4 xây nhà cho người nghèo ở địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị Tòa án xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương. Do đó, các bị cáo T6 và H được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là phù hợp.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tất cả các bị cáo đều phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng là lao động chính trong gia đình nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng các hình phạt tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương để tham gia sản xuất giúp đỡ gia đình cũng đủ giao dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[6] Về phần hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Đặng Viết Đ là người vừa cho các bị cáo khác sử dụng địa điểm đánh bạc vừa trực tiếp chơi đánh bạc nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Các bị cáo còn lại xét điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, chỉ nhất thời ham vui mà phạm tội nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
[7] Về phần xử lý vật chứng:
- 01 chiếc đĩa sứ đã bị vỡ; 01 bát sứ; 04 “quân vị” hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long là công cụ mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 13.670.000 đồng, bao gồm 4.200.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 9.470.000 đồng thu giữ trên người Đặng Viết Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T1 là số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Về số tiền tạm thu trước khi có quyết định thi hành án 10.000.000 đồng/bị cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T6 và Nguyễn Văn H tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện N. Đây là số tiền do các bị cáo tự nguyện nộp để đảm bảo thi hành án. Tuy nhiên, trong vụ án này các bị cáo H và T6 không phải bồi thường, không phải bị truy thu tịch thu hoặc bị áp dụng hình phạt tiền nên cần trả lại cho các bị cáo là phù hợp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Đặng Viết Đ, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T4, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: khoản 1 và khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Viết Đ 12 (Mười hai) tháng tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Phạt bổ sung số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T6 8 (T9) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Ngọc T1 6 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là12 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị T 6 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là12 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Ngọc T4 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là12 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Đặng Viết Đ, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H, Lê Thị T, Trương Ngọc T4 cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T6 cho UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Viết H4 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ 7 ngày quy đổi tương đương 21 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Đặng Viết H4 còn phải chấp hành tiếp 9 (chín) tháng 9 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H2 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ 7 ngày quy đổi tương đương 21 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Văn H2 còn phải chấp hành tiếp 9 (chín) tháng 9 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Á 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Về phần xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đĩa sứ đã bị vỡ; 01 bát sứ; 04 “quân vị” hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá T10;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 13.670.000 đồng, bao gồm 4.200.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 9.470.000 đồng thu giữ trên người Đặng Viết Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T1.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Trả lại cho các bị cáo Nguyễn Ngọc T6 và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) đã tạm thu theo các biên lai thu tiền số 2566 và 2567 ngày 9/7/2024 tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện N.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 6; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo: Đặng Viết Đ, Trương Ngọc T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T6, Lê Thị T, Trương Ngọc T4, Nguyễn Văn H2, Đặng Viết H4 và Lê Thị Á mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Công Tuấn |
Bản án số 19/2024/HSST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HOÁ về đánh bạc
- Số bản án: 19/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Viết Đ & Đồng phạm, phạm tội "Đánh bạc"
