|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS-ST
Ngày: 09/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Vi Ngọc Trung
- Ông Nguyễn Văn Mừng
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Công Đ, sinh năm 1995. Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 0/12. Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Công D (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm: 1966. Chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 31/12/2019 TAND huyện Ngọc Lặc Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến năm 2021 trở về địa phương; Ngày 06/01/2023 bị UBND xã T, huyện T xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị tạm giữ ngày 05/10/2023, ngày 15/10/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q đến nay. Có mặt.
- Người CQLNVLQ: Ông Quách Công H - sinh năm: 1960. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt có lý do.
- Người làm chứng: Quách Văn L - sinh năm: 1989. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/10/2023, bị cáo mượn xe máy biển kiểm soát 61P - 4909, số khung RLCSS16S208Y019682, số máy 16S2019688 của anh Quách Văn L, (xe Luân mượn của bố đẻ là ông Quách Công H). Sau khi mượn xe, bị cáo điều khiển xe từ nhà lên bản P, xã T, huyện Q gặp một người đàn ông đang đi trên đường (bị cáo khai là không biết tên tuổi, địa chỉ) hỏi người đàn ông: “có ma túy bán không?”, người này trả lời: “có”. Bị cáo mua với người đàn ông 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) được một gói ni lon màu xanh bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, rồi điều khiển xe máy quay về nhà, khoảng 18 giờ 25 phút ngày 05/10/2023 thì bị tổ công tác Công an huyện Q phối hợp với công an xã T tiến hành tuần tra kiểm soát đoạn qua bản Pạo, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa phát hiện tại bàn tay trái của bị cáo có một gói nilon màu xanh, bên trong có chứa các cục vụn màu trắng ngà nghi là ma túy, bị cáo khai nhận mình là người nghiện ma túy nên mua về cất giữ với mục đích sử dụng dần, chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Lực lượng Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật chứng, đưa bị cáo về trụ sở làm việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra quyết định trưng cầu giám định các chất nghi là ma túy thu giữ của bị cáo. Tại bản kết luận giám định số: 3618/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Các cục chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tồng khối lượng (trọng lượng) 0.744g (không phẩy bảy bốn bốn gam) loại Heroin".
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSQH ngày 12 tháng 3 năm 2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa truy tố bị cáo Trương Công Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015
Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (05/10/2023).
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy tang vật của vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước Việt Nam cấm tàng trữ, sử dụng nên đề nghị HĐXX tuyên tịch thu để tiêu hủy.
- Xe mô tô biển kiểm soát 61P-4909, số khung RLCSS16S208Y019682, số máy 16S2019688, là tài sản hợp pháp của ông Quách Công H nên đề nghị HĐXX trả lại cho ông H theo quy định của pháp luật.
3
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì. Do đó, mọi quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số ma túy thu giữ được trong quá trình bắt quả tang, có khối lượng 0.744g (không phẩy bảy bốn bốn gam) Heroine.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước; làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được hậu quả của ma túy đối với sức khỏe và đời sống xã hội cũng như sự ngăn cấm của pháp luật nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo không có tiền án; tiền sự: Năm 2019 bị TAND huyện Ngọc lặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến 31/12/2021 trở về địa phương; Ngày 06/01/2023 bị UBND xã T, huyện T xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51809/QĐ-XPHC.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ
4
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt chính : Từ những căn cứ nêu trên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ sức răn đe, để bị cáo tích cực cải tạo, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc, thu nhập không ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về các tình tiết khác trong vụ án: Bị cáo khai mua ma túy với một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở bản P, xã T, huyện Q, vì vậy không có căn cứ để xác minh làm rõ người đã bán mà túy cho bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong do Phòng K - Công an tỉnh T phát hành bên trong có chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong là mẫu vật còn lại sau giám định, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
- Xe mô tô biển kiểm soát 61P-4909 là tài sản hợp pháp của ông Quách Công H, việc bị cáo mượn xe máy với con trai ông H là anh Quách Văn L để đi mua ma túy ông H không biết nên cần áp dụng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Quách Công H;
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 BLHS 2015;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 và Điều 336 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng lệ phí, án phí Tòa án.
1. Tuyên: Bị cáo Trương Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2. Xử phạt: Bị cáo Trương Công Đ 21 (Hai mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (05/10/2023).
5
3. Về xử lý vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0.690g (không phẩy sáu chín không gam) các cục chất bột màu trắng. Tất cả được đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T1, Trần Thúy H1, Nguyễn Văn H2 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
- Tuyên trả lại cho ông Quách Công H xe mô tô biển kiểm soát 61P-4909, số khung RLCSS16S208Y019682, số máy 16S2019688.
Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 13 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa |
|
|
Vi Ngọc Trung |
Nguyễn Văn Mừng |
Ngô Thị Thanh |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
