Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 19/2024/DS-ST

Ngày 06/9/2024

V/v:“Tranh chấp về Thừa kế tài sản".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Anh Trang
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yến và bà Trương Thành Quang
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Trung – Thư ký Tòa án
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hiển – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST - DS ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H – sinh năm 1971 (có mặt).
  • Địa chỉ: C Q, khu phố D, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Hoàng K – sinh năm 1985 theo giấy ủy quyền ngày 28/11/2023), (có mặt).
  • Địa chỉ: Số E, đường Đ, khu phố C, phường T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1967 (có mặt).
  • Địa chỉ: C Q, khu phố D, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • 1. Ông Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1960 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: C P, phường A, quận G, TP ..
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1967 (theo giấy ủy quyền ngày 09/6/2024 và ngày 10/9/2024).
  • 2. Ông Nguyễn Văn H3 - sinh năm 1964 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: C Q, khu phố D, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • 3. Ông Nguyễn Văn H4 - sinh năm 1977 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Hẻm E, khu phố F, phường T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • 4. Bà Nguyễn Thị Kim T - sinh năm 1955 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Khu phố F, phường V, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • 5. Bà Nguyễn Thị Kim H5 - sinh năm 1958 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: E H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
  • 6. Bà Nguyễn Thị Kim M - sinh năm 1962 (có mặt).
  • Địa chỉ: 3 Q, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • 7. Bà Nguyễn Thị Kim H6 - sinh năm 1969 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: A B, E, MN E, USA (Hoa Kỳ)
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim T1 - sinh năm 1973 (theo giấy ủy quyền ngày 16/02/2024), (có mặt).
  • Địa chỉ: C Q, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • 8. Bà Nguyễn Thị Kim T1 - sinh năm 1973 (có mặt).
  • Địa chỉ: C Q, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • 9. Bà Trương Thị Thúy P, sinh năm 1974 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: C Q, phường M, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H, quá trình tố tụng và tại phiên đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lâm Hoàng K trình bày:

Cha mẹ bà H là cụ Nguyễn Văn N (sinh, chết 2016) và cụ Nguyễn Thị M1

(sinh, chết 2021) có 10 người con chung hiện nay đều còn sống gồm: Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Kim T1. Cha mẹ không có con riêng, con nuôi, chết không để lại di chúc.

Khi còn sống cha mẹ có tạo lập tài sản như sau: đất và nhà diện tích 37,41m² gắn liền với thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 48,4m² theo giấy CNQSDĐ do UBND tỉnh N cấp ngày 30/05/2000 (địa chỉ: C Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận) và đất, nhà ở 02 tầng, diện tích xây dựng 47,6m² gắn liền với thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 122,4m² theo giấy CNQSDĐ do U cấp ngày 23/8/2007 (địa chỉ: 3 Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận).

Hiện nay, nhà ở đã hư hỏng và xuống cấp cần phải xây dựng và sửa chữa lại để thờ phụng ông bà cha mẹ nhưng ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Kim M hiện đang ở tại nhà và đất đó không chịu đồng ý chấp nhận, nhiều lần ngăn cản, đóng cửa không cho xây dựng sửa chữa lại, mặc dù các bên đã thương lượng và hòa giải nhưng không thành.

Nay bà H khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Chia tài sản thừa kế do cha mẹ để lại đối với đất và nhà như trên cho 10 anh em, mỗi người 1 kỷ phần, không tính công sức cho ai. Hiện nay bà không có nhà để ở nên xin nhận nhà, đất thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 48,4m² theo giấy CNQSDĐ do UBND tỉnh N cấp ngày 30/05/2000 (Địa chỉ: C Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận) và hoàn tiền lại cho các anh chị em trong gia đình.

Tại phiên toà nguyên đơn xác định không có nhu cầu về nhà ở và yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền.

Tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Nguồn gốc căn nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02 (số C đường Q) và căn nhà 02 tầng, diện tích 47,6m² gắn liền với thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 122,4m² (số C đường Q), thuộc khu phố

D, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận do cha mẹ là cụ Nguyễn Văn N, cụ Nguyễn Thị M1 tạo lập nên.

Cụ Nguyễn Văn N (chết năm 2016), cụ Nguyễn Thị M1 (chết năm 2021) có 10 người con như nguyên đơn trình bày. Cả hai chết đều không để lại di chúc. Đồng ý với yêu cầu chia di sản thừa kế của nguyên đơn, mỗi người con nhận một kỷ phần thừa kế như nhau. Tuy nhiên, căn nhà cấp 4, diện tích 37,41m² gắn liền với thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 48,4m² tọa lạc tại Số C đường Q, là nơi ở duy nhất của vợ chồng ông, ông đã sinh sống trong căn nhà này từ lúc sinh ra cho đến nay. Do đó, ông yêu cầu giải quyết được nhận kỳ phần thừa kế là hiện vật theo như thực tế ông đang quản lý, sử dụng, ông đồng ý hoàn lại tiền theo kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác.

Đối với căn nhà 02 tầng, diện tích 47,6m² gắn liền với thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 122,4m² tọa lạc tại Số C đường Q, hiện nay bà M đang quản lý, sử dụng. Ông đề nghị Toà án giải quyết chia thừa kế theo quy định của pháp luật, và yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng giá trị.

Ngày 14/8/2024 ông H1 thay đổi ý kiến và tại phiên tòa ông không đồng ý nhận nhà, đất và yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền.

Quá trình tố tụng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông, (bà), Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim H6 đều trình bày:

Các ông bà đồng ý với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyện vọng của ông bà được chia nhà đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02, phường M và giao cho bà H6, ông H3 quyền sở hữu. Riêng căn nhà tại thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính số 02, phường M, các ông bà cũng không có nhu cầu nhận hiện vật và yêu cầu được nhận tiền theo kỷ phần thừa kế.

Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3 trình bày:

Ông đồng ý phân chia tài sản thừa kế do cha mẹ để lại theo yêu cầu của nguyên đơn. Hiện ông đang sinh sống cùng ông H1 ở nhà, đất thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02, theo giấy CNQSDĐ do UBND tỉnh N cấp ngày 30/05/2000 (Địa chỉ: C Q, phường M). Do chưa có nhà riêng và hơn nữa là

người coi trọng việc thờ cúng và muốn lưu giữ những kỷ vật của Cha M2 nên ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông được mua lại căn nhà này để ông tiếp tục chu toàn việc thờ cúng Ô, C, tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình lui tới, sum họp trong những ngày G, Lễ T2. Mặc dù em trai Nguyễn Văn H1 cũng cùng chung sống tại đây nhưng chưa bao giờ quan tâm và có trách nhiệm về điều này, thậm chí còn gây khó khăn cho anh chị em khi về nhà Cha mẹ. Ông yêu cầu nhận nhà, đất và hoàn tiền lại cho các anh chị em trong gia đình.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T1 trình bày:

Bà đồng ý phân chia tài sản thừa kế do cha mẹ để lại theo yêu cầu của nguyên đơn. Do gia đình còn lại bốn người chưa có nhà riêng là ông H3, ông H1, bà M, bà H. Đề nghị Toà án giải quyết cho bà Nguyễn Thị Kim H, ông Nguyễn Văn H3 01 căn nhà số C Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (gắn liền với thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02) và giao cho ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Kim M 01 căn nhà số C Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (gắn liền với thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính sổ 02). Những người này có trách nhiệm hoàn lại giá trị tiền cho những người còn lại theo quy định pháp luật.

Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2 và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Cha mẹ ông qua đời có để lại tài sản thừa kế và trước khi qua đời ông bà nhiều lần dặn dò không sang quyền sở hữu cho bất kỳ người con nào vì nơi đó là để thờ tổ tiên, ông bà và nay thờ phụng cha mẹ và cũng là nơi ở cho các anh chị em còn khó khăn chưa có nhà để ở. Trường hợp Tòa án chia thừa kế thì ông đồng ý nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim M trình bày:

Bà đồng ý phân chia tài sản thừa kế do cha mẹ để lại theo yêu cầu của nguyên đơn. Do bà hiện đang sinh sống trên căn nhà số C Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (gắn liền với thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính sổ 02) và không có chổ ở nào khác nên bà yêu cầu nhận nhà đất này và hoàn lại giá

trị tiền cho những người còn lại theo quy định pháp luật.

Ngày 24/6/2024 bà M thay đổi ý kiến và tại phiên tòa bà không đồng ý nhận nhà, đất và yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền.

Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thúy P trình bày:

Hiện vợ chồng bà là Nguyễn Văn H1 và Trương Thị Thúy P đang sinh sống, cư trú ở căn nhà thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02, phường M. Các con bà đi làm xa, không cùng sinh sống ở đây, thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Bà không có yêu cầu gì đối với việc anh chị em ông chồng bà tranh chấp thừa kế. Trường hợp Tòa án giao nhà, đất cho người nào thì bà đồng ý giao nhà, đất cho người đó.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; người tham gia tố tụng là nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia thừa kế theo pháp luật. Giao căn nhà số C Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (gắn liền với thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính số 02) cho ông Nguyễn Văn H3, ông H3 thanh toán kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế. Căn nhà số C Q, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (gắn liền với thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính sổ 02) được bán để chia.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

- Sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Quyết định tố tụng nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn H4 vẫn vắng mặt không có lý do; do đó phải chịu hậu quả pháp lý về việc không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến

hành xét xử vụ án.

- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của đương sự, vụ án có quan hệ pháp luật: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; Trong vụ án có bà Nguyễn Thị Kim H6 đang cư trú sinh sống ở nước ngoài (Hoa Kỳ) nên thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận theo khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về thời hiệu khởi kiện: cụ Nguyễn Văn N chết năm 2016 và cụ Nguyễn Thị M1 chết năm 2021. Tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế”. Ngày 11/01/2024 bà Nguyễn Thị Kim H có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là vẫn còn trong thời hiệu.

[2].Về nội dung:

[2.1]. Quá trình thu thập chứng cứ, xác định:

Tại biên bản xem xét thẩm định được Tòa án lập ngày 03/5/2024, trích đo Bản đồ địa chính ngày 17/7/2024 của Văn phòng Đ và chứng thư Thẩm định giá của Công ty TNHH T3 ngày 26/7/2024 thể hiện:

Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 02, phường M đo đạc có diện tích thực tế 68m²; Tài sản trên đất gồm: Nhà ở 1 tầng + 1 gác lửng, diện tích xây dựng 63,14m², diện tích gác lửng 27,47m². Kết cấu móng trụ đúc, trần tôn la phông, kèo gỗ, mái tôn, nền gạch cramic, tường sơn nước, cửa sắt kéo + nhôm kính. Tỷ lệ còn lại 57% (thời gian xây dựng hơn 30 năm); Mái hiên diện tích xây dựng 11,4m², kết cấu nền xi măng, kèo thép hộp, mái tôn, TLCL: 95%; Cổng, tường rào, diện tích xây dựng 3,8m x 2,7m = 10,26m² kết cấu thép hộp, tỷ lệ còn lại: 95%. Trị giá 3.616.395.000 đồng. Tại phiên toà các bên đương sự thống nhất nhà, đất thửa 12, tờ bản đồ 02 có giá trị 3.000.000.000 đồng như giá đã thỏa thuận trước đây.

Thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02 phường M, đo đạc có diện tích thực tế 74,8m²; Tài sản trên đất gồm: Nhà ở một trệt, một lửng, một lầu, 1 sân thượng, diện tích xây dựng 36,9m², diện tích sàn sử dụng 118,9m². Kết cấu móng trụ đúc, sàn bê tông cốt thép, nền gạch cramic, tường sơn nước, cửa gỗ kính, cầu thang lót đá, nền sân thương lót gạch, kèo thép, mái ngói. TLCL: 75%; Tường

rào tổng chiều dài 8,4m, tường xây ốp đá rối. TLCL: 75%. Trị giá 1.605.235 đồng.

Mặc dù trong khối tài sản tổng trị giá 4.605.235.000 đồng của cụ N, cụ M1 có nguồn tiền đóng góp của bà H6, tuy nhiên bà H6 đồng ý đã tặng cho cha, mẹ và không tranh chấp gì đối với công sức đóng góp vào tài sản. Phần chênh lệch diện tích đất theo giấy chứng nhận được cấp và đo đạc thực tế các bên đương sự thừa nhận là do biến động. Theo Biên bản xác minh của Tòa án lập ngày 30/8/2024, Ủy ban nhân dân phường M cung cấp: “Ranh giới thửa đất đang sử dụng là rõ ràng, ổn định từ trước đến nay, không tranh chấp với các chủ sử dụng đất liền kề, đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất”.

[2.2] Xác định di sản thừa kế, hàng thừa kế của cụ N, cụ M1

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và sự thừa nhận của các đương sự về mối quan hệ huyết thống, xác định:

Cụ Nguyễn Văn N và cụ Nguyễn Thị M1 có 10 người con chung gồm: Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Kim T1. Các cụ không có con nuôi, con riêng.

Sinh thời, cụ N và cụ M1 tạo lập tài sản chung gồm:

Thửa đất số 12, tờ bản đồ địa chính sổ 02, diện tích 48,4m², trên đất có nhà ở và vật kiến trúc gắn liền theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc 1091 do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp ngày 30/05/2000; Bà T1 là người đang giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất mà không cầm cố, thế chấp ở bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Thửa đất số 19, tờ bản đồ địa chính sổ 02, diện tích 122,4m², trên đất có nhà ở và vật kiến trúc gắn liền theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 413230 do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp ngày 23/8/2007. Bà M là người đang giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất mà không cầm cố, thế chấp ở bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Cụ N, cụ M1 chết không để lại di chúc, chưa định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của hai cụ nên phần di sản là nhà và quyền sử dụng đất tổng trị giá 4.605.235.000 đồng sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho các

đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ theo quy định tại Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự gồm 10 kỷ phần, mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế trị giá 460.523.500 đồng.

[2.3]. Xét về nhu cầu nhà ở:

Cả bà H, ông H3, ông H1, bà M trước đây đều có nhu cầu về nhà ở và có nguyện vọng nhận di sản bằng hiện vật, chưa ai có nhà ở riêng. Nhà, đất là một khối liên kết tổng thể kết cấu kiên cố không thể phân chia, tách thửa, vì vậy không thể phân chia hiện vật cho các bên cùng sử dụng.

[2.3.1] Đối với nhà, đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 02, phường M có diện tích 68m², hiện tại ông H3 và vợ chồng ông H1 cùng quản lý sử dụng. Ngày 14/8/2024 ông H1 đề nghị nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền và tại phiên tòa, ông H1 xác định không có nhu cầu về nhà ở, đồng ý giao nhà, đất cho bà H, ông H3 được nhận. Các đồng thừa kế khác như Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim T1 đều thống nhất giao nhà, đất cho bà H, ông H3. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà H yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền. Riêng ông H3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình tố tụng ông H3 có mong muốn được nhận nhà, đất để thờ cúng ông bà, cha mẹ và hiện tại ông H3 cũng đang sinh sống tại nhà, đất này mà không có chổ ở nào khác. Do đó, giao toàn bộ quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng thửa đất số 12, tờ bản đồ số 02, phường M cho ông H3 và ông H3 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế mỗi người được nhận số tiền 282.164.056 đồng, sau khi trừ kỷ phần thừa kế 460.523.500 đồng ông H3 được nhận.

Hiện tại vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Trương Thị Thúy P đang cư trú tại nhà, đất thửa đất số 12, tờ bản đồ số 02, phường M, vì vậy vợ chồng ông H1 phải có nghĩa vụ thu dọn, di dời tài sản để giao trả căn nhà, đất cho ông H3 quyền sở hữu. Đồng thời bà T1 phải có nghĩa vụ giao trả giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc 1091 do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp ngày 30/05/2000 cho ông H3.

[2.3.2] Đối với nhà, đất thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, phường M, có diện tích 74,8m², hiện tại bà M là người quản lý sử dụng. Quá trình tố tụng bà M có yêu cầu nhận nhà đất này, tuy nhiên ngày 24/6/2024 bà M đề nghị nhận kỷ

phần thừa kế bằng tiền và tại phiên tòa, bà M xác định không có nhu cầu về nhà ở. Các đồng thừa kế đều thống nhất về giá trị 1.605.235 đồng nhưng không thỏa thuận được về người nhận, cũng không ai có nhu cầu nhận nhà, đất này; Bà M thì không đủ khả năng nhận nhà, đất và hoàn trả kỷ phần thừa kế theo giá trị cho các đồng thừa kế khác. Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 di sản được bán để chia.

Nhà, đất đã được bà M đang quản lý, sử dụng và giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 413230 do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp ngày 23/8/2007, vì vậy giao cho bà M thực hiện bán nhà để phân chia cho 9 đồng thừa kế gồm: ông (bà) Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Kim T1 với tỷ lệ sở hữu của mỗi người là 1/9 giá trị di sản tại thời điểm bán, sau khi đã trừ chi phí hợp lý khi thực hiện thủ tục mua bán nhà.

Trong trường hợp bà M không thực hiện việc mua bán nhà thì các đương sự được nhận thừa kế nêu trên có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản là nhà, đất thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, phường M, có diện tích 74,8m² để thi hành án và nhận giá trị tương ứng tỷ lệ mỗi người 1/9 di sản được xác định tại thời điểm thi hành án sau khi đã khấu trừ chi phí đấu giá tài sản và các chi phí khác (nếu có). Bà M phải giao nhà, đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 413230 do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp ngày 23/8/2007 cho cơ quan Thi hành án có thẩm quyền để thực hiện thi hành án.

Từ những phân tích, nhận định như trên; Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia di sản thừa kế là có căn cứ phù hợp Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Chi phí tố tụng:

Chi phí thẩm định, trích đo số tiền 4.196.000 đồng bà H tự nguyện chịu và đã nộp đủ.

Chi phí thẩm định giá theo yêu cầu của các bên đương sự số tiền 30.800.000 đồng, mỗi người phải chịu chi phí tương ứng với tỷ lệ 1/10. Bà H đã

nộp tiền tạm ứng do đó ông Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim T1 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà H số tiền 3.080.000 đồng.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Mỗi đương sự phải chịu án phí sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản được chia trong khối di sản thừa kế. Các ông, bà Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Kim T1 mỗi người phải chịu 22.421.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông H3, bà T, bà H5, bà M, ông H2 là người cao tuổi và có đơn nên được miễn tiền án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12 Luật Nhà ở; Điều 12, khoản 3 Điều 105, Điều 106, Điều 167, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 về Án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H1 về việc: “Tranh chấp về Thừa kế tài sản”.

1. Giao cho ông Nguyễn Văn H3 được quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở đối với: Căn nhà 1 tầng + 1 gác lửng, diện tích xây dựng 63,14m², diện tích gác lửng 27,47m². Kết cấu móng trụ đúc, trần tôn la phông, kèo gỗ, mái tôn, nền gạch cramic, tường sơn nước, cửa sắt kéo + nhôm kính cùng vật kiến trúc gắn liền: Mái hiên diện tích xây dựng 11,4m², kết cấu nền xi măng, kèo thép hộp, mái tôn; Cổng, tường rào, diện tích xây dựng 3,8m x 2,7m = 10,26m² kết cấu thép hộp; gắn liền trên thửa đất số 12, tờ bản đồ số 02, phường M, có

diện tích 68m² theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc 1091 do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp ngày 30/05/2000; Được xác định bởi các điểm (1, 2, 3, 4, 21, 19, 20) theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 17/7/2024 của Văn phòng Đ.

Vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Trương Thị Thúy P và những người con cùng đang cư trú trong nhà, đất của thửa đất số 12, tờ bản đồ số 02, phường M phải có nghĩa vụ giao trả cho ông Nguyễn Văn H3 quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất đối với căn nhà ở 1 tầng + 1 gác lửng, diện tích xây dựng 63,14m², diện tích gác lửng 27,47m². Kết cấu móng trụ đúc, trần tôn la phông, kèo gỗ, mái tôn, nền gạch cramic, tường sơn nước, cửa sắt kéo + nhôm kính cùng vật kiến trúc gắn liền: Mái hiên diện tích xây dựng 11,4m², kết cấu nền xi măng, kèo thép hộp, mái tôn; Cổng, tường rào, diện tích xây dựng 3,8m x 2,7m = 10,26m² kết cấu thép hộp; gắn liền trên thửa đất số 12, tờ bản đồ số 02, phường M, có diện tích 68m².

Ông Nguyễn Văn H3 có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế cho các ông (bà) Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim T1, Nguyễn Thị Kim M, mỗi người được nhận số tiền 282.164.056 đồng (Hai trăm tám mươi hai triệu một trăm sáu mươi bốn ngàn đồng), (làm tròn số).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Bà Nguyễn Thị Kim T1 có nghĩa vụ phải giao lại bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc 1091 do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp ngày 30/05/2000 để ông H3 làm thủ tục đăng ký cấp mới hoặc điều chỉnh theo quy định của pháp luật. Đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký, chỉnh lý biến động, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quyết định của Bản án và theo đúng quy định pháp luật về đất đai.

2. Giao cho bà Nguyễn Thị Kim M thực hiện mua bán nhà ở đối với căn nhà ở 4 tầng gồm: 01 trệt, 01 lửng, 01 lầu, 01 sân thượng, diện tích xây dựng 36,9m², diện tích sàn sử dụng 118,9m². Kết cấu móng trụ đúc, sàn bê tông cốt thép, nền gạch cramic, tường sơn nước, cửa gỗ kính, cầu thang lót đá, nền sân thượng lót gạch, kèo thép, mái ngói; cùng vật kiến trúc gắn liền: Tường rào tổng chiều dài 8,4m, tường xây ốp đá rối gắn liền trên thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, phường M, có diện tích 74,8m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 413230 do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp ngày 23/8/2007. Được xác định bởi các điểm (4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 21) theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 17/7/2024 của Văn phòng Đ, để phân chia cho 9 đồng thừa kế gồm: ông (bà) Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Kim T1, với tỷ lệ sở hữu của mỗi người là 1/9 giá trị di sản tại thời điểm bán, sau khi đã trừ chi phí hợp lý khi thực hiện thủ tục mua bán nhà.

Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Kim M không thực hiện việc mua bán nhà thì các đương sự được nhận thừa kế nêu trên có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản là nhà, đất đối với căn nhà ở 4 tầng gồm: 01 trệt, 01 lửng, 01 lầu, 01 sân thượng, diện tích xây dựng 36,9m², diện tích sàn sử dụng 118,9m². Kết cấu móng trụ đúc, sàn bê tông cốt thép, nền gạch cramic, tường sơn nước, cửa gỗ kính, cầu thang lót đá, nền sân thương lót gạch, kèo thép, mái ngói; cùng vật kiến trúc gắn liền: Tường rào tổng chiều dài 8,4m, tường xây ốp đá rối; gắn liền trên thửa đất số 19, tờ bản đồ số 02, phường M, có diện tích 74,8m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 413230 do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp ngày 23/8/2007 để thi hành án và nhận giá trị tương ứng tỷ lệ mỗi người 1/9 di sản được xác định tại thời điểm thi hành án sau khi đã khấu trừ chi phí đấu giá tài sản và các chi phí khác (nếu có).

Bà M phải giao nhà, đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 413230 do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp ngày 23/8/2007 cho cơ quan Thi hành án có thẩm quyền để thực hiện thi hành án.

(Có trích lục bản đồ địa chính ngày 17/7/2024 của Văn phòng Đ kèm theo).

3. Chi phí tố tụng:

Chi phí thẩm định, trích đo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H tự nguyện chịu và đã nộp đủ.

Chi phí thẩm định giá: ông Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim H5, Nguyễn Thị Kim M, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim T1 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim H số tiền 3.080.000 đồng ( Ba triệu không trăm tám mươi ngàn đồng).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn H3, ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Kim H5, bà Nguyễn Thị Kim M.

Các ông (bà) Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Thị Kim H6, Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Kim T1 mỗi người phải chịu 22.421.000 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Riêng bà H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000056 ngày 04/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận. Bà H còn phải nộp thêm số tiền 4.421.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm hai mươi mốt ngàn đồng) án phí sơ thẩm .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2024); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống hợp lệ Bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (10);
  • - TAND cấp cao tại TP . HCM
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận (1);
  • - Cục THADS tỉnh Ninh Thuận (1);
  • - Phòng KTNV&THA (1);
  • - Lưu hồ sơ, án văn, HC-TP (3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 19/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thi Kim H - Nguyen Van H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger