TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS - ST Ngày 04 - 7 - 2024 | - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dư Thanh Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Trịnh Hữu Hiệp
- + Ông Nguyễn Việt Bắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Nhẫn - kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 06 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, (tên gọi khác không), sinh ngày 01/01/1994; nơi sinh Xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn không biết chữ; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Danh Thị A; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án không; tiền sự không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/4/2024 (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Ông Quách Văn Đ2, sinh năm 1962
Nơi cư trú: Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 26/6/2023 tại ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau, chỉ vì cho rằng ông Quách Văn Đ2 có lời nói xúc phạm đến mình nên Nguyễn Văn Đ có hành vi dùng cây dao tự chế bằng kim loại, cán bằng kim loại dài 18 cm, lưỡi dài 48 cm, chiều ngang rộng 4 cm, mũi hình bầu cong là hung khí nguy hiểm chém vào căng tay trái của ông Quách Văn Đ2 gây thương tích cho ông Đ2.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 193/KLTTCT-TTPY, ngày 25/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh C đối với Quách Văn Đ2 kết luận:
“
1. Các kết quả chính
- 01 vết sẹo và vết phẫu thuật hình chữ “Z” từ khuỷu tay xuống 1/3 giữa mặt ngoài cẳng tay trái, kích thước: 16,5cm x 0,2cm, tỷ lệ 02%, do vật sắc, vật sắc nhọn gây ra.
- Đứt động mạch gian cốt sau nhánh (động mạch quay) tay trái đã khâu nối, tỷ lệ 04%, do vật sắc, vật sắc nhọn gây ra.
- Đứt thần kinh gian cốt sau (nhánh nông dây thần kinh quay) tay trái, cơ khuỷu, cơ duỗi chung các ngón đã khâu nôn, tỷ lệ 13%, do vật sắc, vật sắc nhọn gây ra.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quách Văn Đ2 tại thời điểm giám định là: 18% (Mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động lên bề mặt cơ thể làm tổn thương da, gân, cơ, mạch máu, thần kinh. Sau khi điều trị để lại thương tích như trên.
+ Các thương tích ông Quách Văn Đ2 có cùng thời điểm xảy ra.”
Vật chứng của vụ án: 01 cây dao tự chế dài 66 cm, cán dao bằng kim loại màu trắng dài 18cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 48 cm, mũi dao bầu cong, chiều ngang lưỡi dao 04 cm
Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích. Về trách nhiệm dân sự không xem xét.
Bị hại ông Quách Văn Đ2 yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự ông đã nhận tiền bị cáo bồi thường 40.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường tiếp.
Bị cáo thừa nhận có dùng hung khí bằng dao tự chế chém gây thương tích cho Đ2, bị cáo nhận tội, bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận: Ngày 26/6/2023, bị cáo đi đám tang của bà Trần Thị T tại ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Bị cáo đến ngồi cùng bàn với ông Đ2. Trong lúc ngồi chung, bị cáo nói: “Chia vui với gia đình”, ông Đ2 mới nói với bị cáo: “Đi đám tang sao chia vui, chia buồn mới phải, mày nói vậy chủ nhà nghe đánh chết”, bị cáo nghe nhầm là đánh chết mẹ mày nên bị cáo tức giận nói với ông Đ2: “Ông chờ tôi chút xíu” rồi lên xe chạy đi. Lát sau bị cáo quay lại thấy ông Đ2 ngồi ở phía trước nhà ông Lý Nam T1, đối diện với đám tang, bị cáo chạy xe đến trên tay cầm 01 cây dao tự chế đến cự cãi với ông Đ2, xô đẩy ông Đ2 té ngã, mọi người can ngăn thì bị cáo lên xe định về nhưng giữa bị cáo và ông Đ2 vẫn còn cự cãi, bị cáo tiếp tục xông vô dùng dao chém 01 cái nhưng ông Đ2 đỡ được, bị cáo chém tiếp cái thứ hai trúng vào cẳng tay trái của ông Đ2 gây thương tích cho ông Đ2, rồi bị cáo đi về nhà. Bị cáo xác định thương tích của ông Đ2 do bị cáo gây ra.
Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng và thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép buộc hay bị một tác động nào khác. Căn cứ kết quả khai báo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội cố ý gây thương tích được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Điểm đ khoản 2 Điều 134 quy định: 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm”.
a)
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo gây thương tích cho ông Quách Văn Đ2 là nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của ông Đ2 một cách trái pháp luật và gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hậu quả của hành vi bị cáo gây thương tích cho ông Đ2 là 18%, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng; lẽ ra khi bị cáo nghe ông Đ2 nói “Đi đám tang sao chia vui, chia buồn mới phải, mày nói vậy chủ nhà nghe đánh chết”, bị cáo nghe chưa rõ, cần hỏi lại ông Đ2 nói gì để làm rõ lại nhưng bị cáo không thực hiện mà quyết định dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông Đ2, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo gây ra.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm đến 3 năm tù là có căn cứ và thỏa đáng.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy giảm một phần hình phạt cho bị cáo nhưng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông Quách Văn Đ2 đã nhận tiền bồi thường không yêu cầu bồi thường tiếp nên không xem xét.
5] Về vật chứng của vụ án: 01 cây dao tự chế dài 66 cm, cán dao bằng kim loại màu trắng dài 18 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 48 cm, mũi dao bầu cong, chiều ngang lưỡi dao 04 cm là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
[6] Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên xử: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội cố ý gây thương tích.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 cây dao tự chế dài 66 cm, cán dao bằng kim loại màu trắng dài 18 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 48 cm, mũi dao bầu cong, chiều ngang lưỡi dao 04 cm. Các vật chứng hiện cơ quan Thi hành án dân sự huyện U đang quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện U và Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dư Thanh Nguyễn |
Bản án số 19/2024/HS - ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 19/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đăng phạm tội cố ý gây thương tích