Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 19/2024/HS-PT

Ngày: 01/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Pho

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Như Mai và Ông Nguyễn Minh Thành.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Dũng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Văn Q do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn Q; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 30/12/1987 tại Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn 1, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956. Hiện cả hai làm nông và sinh sống tại: Xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Có vợ là: Lang Thị T1, sinh năm 1996 (Đã ly hôn); Con là Nguyễn Thị Chiều X, sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/01/2024 cho đến nay có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, còn có bị cáo Đinh Kim C không kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/11/2023, trong lúc nhậu với nhau tại nhà của Nguyễn Văn Q (sinh năm 1987) thì Q đã rủ Đinh Kim C (sinh năm 1993) đi lấy trộm xi măng của công trình đang làm đường giao thông cửa khẩu H1 với mục đích về để sửa lại chuồng bò. Khi nghe Q nói vậy, C đồng ý. Lúc này, Q nói C có phương tiện gì để chở không; nghe vậy C nói có một xe máy cày mà C mượn được của anh Vũ Văn D để ở Đội 12 Công ty 716 thuộc xã I - huyện I. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày sau khi cả hai đi lấy máy cày; thì C điều khiển máy cày chở Q đến khu vực công trình làm đường giao thông cửa khẩu H1 thuộc xã I, khi đến nơi thì C lui máy cày vào gần nơi đặt xi măng và tắt đèn; cả hai quan sát thấy không có ai trông coi nên đã cùng nhau bốc toàn bộ số xi măng gồm 39 bao còn nguyên và 01 bao đã mở miệng (trong bao vẫn còn một phần xi măng) để đưa lên máy cày. Sau đó, cả hai đưa số xi măng đã lấy về cất giấu tại phòng bếp của nhà Q; sau khi xong việc C đem máy cày trả lại cho anh D. Vụ việc sau đó bị phát hiện, nhận thấy hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên ngày 29/11/2023 Q và C đã đến Đồn biên phòng H2 - huyện I - tỉnh Kon Tum để đầu thú.

Tại Bản Kết luận về việc định giá tài sản số: 12/2023/KL-HĐĐG ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện I, xác định: Tổng khối lượng 39 bao xi măng còn nguyên và 01 bao xi măng đã mở có khối lượng 1.990kg xi măng Kaito PCB40 tại thời điểm ngày 23/11/2023 có giá trị là 2.547.200 đồng (Hai triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm đồng).

Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Q 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo không có kháng cáo và không có kháng nghị, đối với án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu và bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 08 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng phạm vi kháng cáo nên được Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 23/11/2023, lợi dụng sự sơ hở không có người trông coi nên Nguyễn Văn Q cùng Đinh Kim C đã lén lút lấy đi 39 (ba mươi chín) bao xi măng còn nguyên bao và 01 (một) bao xi măng đã mở, bên trong có một phần xi măng nhãn hiệu KAITO, số lô KT40-MHSM01056 loại 50kg/01 bao thuộc sở hữu của Công ty TNHH V để đem về cất giấu tại nhà bị cáo Q. Tại thời điểm định giá tài sản trộm cắp có tổng giá trị là 2.547.200₫ (Hai triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm đồng)

Với hành vi trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q thấy rằng:

Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xử phạt bị cáo mức án 08 tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, số tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn và bị cáo đã trả lại toàn bộ tài sản cho bị hại. Đồng thời, trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu là 01 đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương và 01 quyết định công nhận thuận tình ly hôn thể hiện bị cáo đang là lao động chính trong gia đình, vợ chồng ly hôn, bị cáo đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sinh năm 2015; bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện ông Nguyễn Văn H là bố đẻ của bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo thể hiện qua giấy chứng nhận hộ nghèo từ năm 2021 đến năm 2024. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS mà Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét áp dụng cho bị cáo.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo HĐXX phúc thẩm thấy rằng bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt có giá trị thấp; một phần vì hoàn cảnh gia đình khó khăn mà nhất thời nảy sinh hành vi phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo đã kịp thời nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện ra đầu thú và trả lại toàn bộ tài sản cho bị hại, bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2. Trường hợp của bị cáo đủ điều kiện để cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho xã hội và đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải.

Từ những phân tích nêu trên, HĐXX chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Về án phí: Đơn kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum về phần hình phạt.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 08 (T2) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. (01/7/2024)

    Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hương án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điêu 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Về các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh KT;
  • - VKSND huyện;
  • - TAND huyện;
  • - CQCSĐT CA huyện;
  • - UBND xã Ia Dal;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Pho

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 19/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Quyết bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản, kháng cáo xin hưởng án treo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger