Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19/3/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con chung.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đủ

2. Bà Trần Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 369/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25/02/2025 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T – sinh năm: 1992

Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Nguyễn Bá L – sinh năm: 1991

Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bà T có mặt, ông L vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu T xạ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Bá L tự nguyện tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 17/3/2017.

Quá trình chung sống vợ chồng chị hạnh phúc được thời gian đầu, nhưng từ khi bà T sinh con thì phát sinh mâu thuẫn vì anh L không quan tâm đến vợ con, nguyên nhân là do anh L chơi bời, đi sớm về trễ, làm ra tiền về không phụ với vợ để chăm lo cho gia đình mà chỉ ăn chơi nên vợ chồng thường cãi vã, đời sống không hòa hợp, anh L thường xuyên dùng những hành động, lời nói xúc phạm tới chị T do đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, mặc dù gia đình hai bên cũng như vợ chồng tự hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vẫn không hề giảm mà ngày càng phát sinh trầm trọng hơn nên từ đó chị T, anh L sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.

Nay chị T nhận thấy tình trạng gia đình đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Bá L có 01 người con chung tên Nguyễn Hoài B, sinh ngày 23/5/2017. Hiện nay cháu B đang sống chung với chị nên sau khi ly hôn chị T muốn tiếp tục được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu T chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu T xác định không có nợ chung và không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Bá L. Tuy nhiên, anh L không đến Toà án để tham gia tố tụng. Do vậy, anh L không có lời khai tại hồ sơ và không có lời khai tại phiên toà.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký Tòa án và của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Q; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 khoản 1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T. Chị T được ly hôn với anh Nguyễn Bá L.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoài B, sinh ngày 23/5/2017 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có, không đề nghị giải quyết.

- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng, tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, về việc “Ly hôn và nuôi con chung” giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu T và bị đơn là anh Nguyễn Bá L, phía bị đơn có hộ khẩu thường trú tại: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đây là vụ án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn là chị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, mặt khác anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà cố tình vắng mặt, là phù hợp với khoản 1, 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của bị đơn: Anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh L.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Bá L kết hôn với nhau dựa trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký tại UBND xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận ngày 17/3/2017, là hôn nhân hợp pháp. Phía chị T cho rằng, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đầu sau khi sinh con thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do khác biệt về quan điểm, lối sống và đã sống ly thân từ lâu, không còn quan hệ gì với nhau nữa. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn và chị không còn yêu thương anh L nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án phía anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, mặc dù không có lời khai của anh L nhưng dựa trên lời trình bày của chị T cũng như trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho anh L và chị T trở về đoàn tụ với nhau nhưng anh L cố tình vắng mặt không có lý do đồng thời chị T xác định không còn tình cảm với anh L. Việc anh L cố tình vắng mặt trong các buổi hòa giải cho thấy anh L không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ chị T và không thiện chí để vợ chồng đoàn tụ nên đủ cơ sở nhận định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị T và xử cho chị T được ly hôn anh L là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị T xác định giữa chị và anh L có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoài B, sinh ngày 23/5/2017, hiện chị T đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị T xin được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay con chung còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ, hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, tại lời khai cháu B yêu cầu được sống với mẹ và nếu căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con chung thì cần giao cháu B cho chị T được quyền nuôi dưỡng con chung, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con, vì chị T không yêu cầu là phù hợp khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức và các vấn đề khác: Chị T xác định vợ chồng không có gì và phía anh L vắng mặt. Do vậy, Tòa án không đặt ra giải quyết là phù hợp.

[3] Về án phí: Nguyên đơn là chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, 271, 273, 280, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn và nuôi con chung”.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Bá L.

  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hoài B, sinh ngày 23/5/2017, cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung, vì chị T không yêu cầu.

    Chị T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đối với anh L. Trong trường hợp anh L lạm dụng việc thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con và ngược lại vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và các vấn đề khác: Không đặt ra giải quyết.

  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002278 ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, chị Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/3/2025) chị Nguyễn Thị Thu T có quyền kháng cáo. Anh Nguyễn Bá L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật

  6. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự;người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - UBND xã Phong Nẫm;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Lưu Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger