Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 18/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Kính

Bà Nguyễn Thị Diệu Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Lưu Chấn T, giới tính: Nam, sinh ngày: 08/4/1996 tại TP.; nơi thường trú: 220 đường L, tổ A, khu phố C, phường L, TP., TP.; nơi ở hiện tại: Căn hộ 1910, tòa S, chung cư V, phường L, TP., TP.; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Lưu Chấn H, sinh năm; 1969 và bà Trần Thị H1, sinh năm: 1966; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    • Tháng 11/2011 bị Công an quận T (nay là TP.), TP. xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi đánh nhau.
    • Ngày 26/5/2014 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là TP.), TP. xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích" theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Ngày 23/10/2015 chấp hành xong hình phạt tù.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, “Tạm giam” từ ngày 02/5/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

  2. Cao Thiên Á, giới tính: Nam; sinh ngày: 21/10/1997 tại TP.; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số nhà A, đường số E, tổ dân phố A, khu phố D, phường T, TP., TP.; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; con ông: Cao Hoàng T1, sinh năm: 1965 và bà Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm: 1967; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, “Tạm giam” từ ngày 02/5/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

  3. Nguyễn Tấn H2, giới tính: Nam; sinh ngày: 25/4/1994 tại Tỉnh Đắk Lắk; nơi thường trú: 4 Hồ T, phường T, TP., tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: Căn hộ 1910, tòa S, chung cư V, phường L, TP., TP.; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Tấn T2, sinh năm: 1970 và bà Dương Thị L, sinh năm: 1974; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1994 (đã ly hôn); con: 02 con, sinh năm 2014 và 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    Ngày 22/01/2019 bị Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 16 tháng. Ngày 13/01/2020 chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ”, “Tạm giam” từ ngày 02/5/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Dương Thanh H3, sinh ngày 18/6/2000; địa chỉ: 4 Hồ T, phường T, TP B, tỉnh Đắc Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 02/2024, Cao Thiên Á, Lưu Chấn T và Nguyễn Tấn H2 thuê phòng A6-08 chung cư JAMONA ở số B B, phường T, quận G, TP. để ở. Để có tiền tiêu xài nên Á, T và H2 bàn bạc, thống nhất mở tài khoản ngân hàng đứng tên doanh nghiệp để bán cho người có nhu cầu. Phân công nhiệm vụ cụ thể là T, Á lên mạng Internet tìm kiếm người có nhu cầu mua tài khoản ngân hàng, khi tìm được người mua tài khoản ngân hàng thì Á có nhiệm vụ liên hệ đặt làm Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, T có nhiệm vụ liên hệ đặt làm căn cước công dân giả và liên hệ với Ngân hàng đề nghị mở tài khoản, H2 có nhiệm vụ đến Ngân hàng làm thủ tục đăng ký mở tài khoản.

Khoảng đầu tháng 3/2024, thông qua ứng dụng Telegram, Á được đối tượng có nick T3 "Tam Thái T4” (không rõ lai lịch) đặt làm Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp với tên: CÔNG TY TNHH T6, do Lê Hoàng L1 làm Giám đốc, mở tài khoản của CÔNG TY TNHH T6 tại Ngân hàng V và Ngân hàng Q, giá mua 02 tài khoản Ngân hàng là 20.000.000 đồng, 01 tài khoản Ngân hàng là 13.000.000 đồng, Á đồng ý, đồng thời đối tượng gửi cho Á hình ảnh căn cước công dân mang tên Lê Hoàng L1 (Sinh ngày: 09/3/1997, số căn cước công dân: [...]). Á vào nhóm Facebook “Thành lập doanh nghiệp mới” kết bạn với đối tượng có nick Facebook “Hồng” (không rõ lai lịch) và đặt “Hồng” làm Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo các thông tin mà đối tượng “Tam Thái T4" cung cấp với giá 6.000.000 đồng. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q cấp ngày 15/8/2023 cho CÔNG TY TNHH T6 do Lê Hoàng L1 (Sinh ngày: 09/3/1997, số căn cước công dân: [...]) làm Giám đốc và con dấu của Công ty. Để mở được tài khoản tại Ngân hàng V và Ngân hàng M2 thì phải có căn cước công dân của Lê Hoàng L1 nên Á, T và H2 thống nhất đặt làm căn cước công dân giả mang tên Lê Hoàng L1, hình ảnh trong căn cước công dân giả là hình ảnh của H2 để H2 đến Ngân hàng làm thủ tục đăng ký mở tài khoản theo quy định. T liên hệ với một đối tượng (không rõ lai lịch) đặt làm căn cước công dân giả số: [...], mang tên Lê Hoàng L1, sinh ngày: 09/3/1997, hình ảnh trong căn cước công dân giả là hình ảnh của H2 với giá 1.000.000 đồng. Khi nhận được căn cước công dân giả mang tên Lê Hoàng L1 thì T liên hệ với Ngân hàng V – Chi nhánh T7 đề nghị mở tài khoản, rồi H2 trực tiếp mang căn cước công dân giả và các giấy tờ đến gặp nhân viên Ngân hàng V – Chi nhánh T7 làm thủ tục đăng ký và mở thành công tài khoản số 1045666401, chủ tài khoản là CÔNG TY TNHH T6. Sau đó, Á đưa địa chỉ của người nhận cho T để gửi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, con dấu, thông tin, mật khẩu tài khoản Ngân hàng cho đối tượng ở cửa khẩu M3, tỉnh Tây Ninh. Số tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài khoản ngân hàng của CÔNG TY TNHH T6 là 5.500.000 đồng (Ái được chia 2.000.000 đồng, T được chia 2.500.000 đồng và H2 được chia 1.000.000 đồng). Sau đó, đối tượng “Tam Thái T4” không rõ lai lịch này đã sử dụng tài khoản của Công ty TNHH T6 lừa đảo chiếm đoạt của chị Lê Thị Lệ C thường trú: 44 C, TP tỉnh Bình Định 30.207.502.9000 đồng. (B1: 260-261, 287-288, 305-306).

Ngoài ra, trong quá trình điều tra còn xác định được từ tháng 09/2023 đến tháng 4/2024, T cùng với Á và H2 sử dụng thông tin của người khác để đăng ký thành lập 21 doanh nghiệp khác nhau và mở 26 tài khoản ngân hàng đứng tên những doanh nghiệp này. Trong đó, T mở 24 tài khoản ngân hàng, T cùng với Á và H2 mở 02 tài khoản ngân hàng, đã bán 26 tài khoản ngân hàng này cho các đối tượng (không rõ lai lịch) với giá từ 10.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng/01 tài khoản, sau khi trừ chi phí làm dịch vụ (giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, mua file ảnh căn cước công dân, chi phí vận chuyển...) thì mỗi tài khoản thu lợi bất chính từ 3.200.000 đồng đến 6.200.000 đồng. T thu lợi bất chính 46.500.000 đồng, Á thu lợi bất chính 3.100.000 đồng và H2 thu lợi bất chính 2.000.000 đồng từ việc mua bán tài khoản ngân hàng.

Qúa trình điều tra đã thu giữ: 01 Căn cước công dân (ghi số: [...], họ và tên: LÊ HOÀNG L1; ngày sinh: 09/3/1997; nơi thường trú: Ấp P, P, T, Đồng Nai); 01 Căn cước công dân (ghi số: [...], họ và tên: NGUYỄN TẤN H2; ngày sinh: 25/4/1994; nơi thường trú: 42/13 Hồ Tùng M1, T, Buôn Ma T5, Đắk Lắk); 01 điện thoại di động (màu xanh, phía sau có chữ SAMSUNG) của Lưu Chấn T và đã trích xuất được hình ảnh 60 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, 51 căn cước công dân; 01 điện thoại di động (mặt sau màu xanh có chữ OPPO) của Cao Thiên Á.

- Tại Bản kết luận giám định số: 196/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận như sau:

  • + 01 Căn cước công dân ghi số: [...], họ và tên: LÊ HOÀNG L1; ngày sinh: 09/3/1997; nơi thường trú: Ấp P, P, T, Đồng Nai (ký hiệu A1) là căn cước công dân giả được tạo ra bằng phương pháp tẩy xóa, sửa chữa, thay ảnh.
  • + 01 Căn cước công dân ghi số: [...], họ và tên: NGUYỄN TẤN H2; ngày sinh: 25/4/1994; nơi thường trú: 4 Hồ T, T, Buôn Ma T5, Đắk Lắk (ký hiệu A2) là căn cước công dân thật.

- Tại Bản kết luận giám định số: 420, 210/KL-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận như sau: Phục hồi dữ liệu điện thoại gửi giám định (điện thoại di động thu giữ của Lưu Chấn T và Cao Thiên Á) nhưng không tìm thấy dữ liệu tin nhắn Zalo, tin nhắn Messenger, tin nhắn SMS, tin nhắn T3 đã bị xóa, có liên quan đến việc mua bán tài khoản ngân hàng và sử dụng giấy tờ, tài liệu giả, do đó, không tiến hành trích xuất.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra tạm giữ gồm 01 điện thoại di động, 01 CPU máy tính và 01 màn hình máy tính của Lưu Chấn T; 01 căn cước công dân và 01 thẻ ATM của Nguyễn Tấn H2; 01 điện thoại di động của Cao Thiên Á; 01 điện thoại di động của Trần Dương Thanh H3; 01 căn cước công dân mang tên Lê Hoàng L1; 01 hộp dấu tròn đỏ có chữ CÔNG TY TNHH T6.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSBĐ-P2 ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Lưu Chấn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo điểm d khoản 2 Điều 291 Bộ luật Hình sự; Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Lưu Chấn T, Cao Thiên Á và Nguyễn Tấn H2 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Lưu Chấn T, Cao Thiên Á và Nguyễn Tấn H2 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Chấn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”. Các bị cáo Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
    • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 341; điểm d khoản 2 Điều 291; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lưu Chấn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”. Tổng hợp hình phạt 2 tội từ 03 năm đến 03 năm 09 tháng tù.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Cao Thiên Á và bị cáo Nguyễn Tấn H2 mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

  1. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động của bị cáo Lưu Chấn T và 01 điện thoại di động của bị cáo Cao Thiên Á.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn H2 01 thẻ ATM ngân hàng S, số thẻ: 5174160009544843, số tài khoản: 050130335354 và 01 căn cước công dân số [...], có tên Nguyễn Tấn H2, sinh ngày 25/4/1994. Trả lại cho bị cáo Lưu Chấn T 01 CPU máy tính màu hồng, mặt trước có chữ VSP và 01 màn hình máy vi tính màu hồng. Trả lại cho anh Trần Dương Thanh H3 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Oppo, có số IMEI 1: 868289051693331, số IMEI 2: 868289051693323.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp dấu đỏ tròn có chữ CÔNG TY TNHH T6;
    • Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 căn cước công dân mang tên Lê Hoàng L1.
  1. Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiền thu lợi bất chính của từng bị cáo sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo không bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Trong tháng 3/2024, Lưu Chấn T, Cao Thiên Á và Nguyễn Tấn H2 có sự câu kết chặt chẽ trong việc đặt làm căn cước công dân giả để sử dụng vào mục đích trái pháp luật là đăng ký mở tài khoản ngân hàng đứng tên doanh nghiệp bán cho đối tượng lừa đảo, lấy tiền chia nhau tiêu xài. Để đăng ký mở được tài khoản đứng tên CÔNG TY TNHH T6 tại Ngân hàng V thì Á trực tiếp liên hệ đặt làm Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, T trực tiếp liên hệ đặt làm căn cước công dân giả mang tên Lê Hoàng L1 với hình ảnh trong căn cước công dân giả là hình ảnh của H2 và liên hệ với Ngân hàng V đề nghị mở tài khoản, còn H2 trực tiếp sử dụng căn cước công dân giả đến gặp nhân viên Ngân hàng V làm thủ tục đăng ký mở tài khoản. Sau đó, T, Á, H2 bán tài khoản này cho đối tượng “Tam Thái T4” không rõ lai lịch để đối tượng này sử dụng lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Lệ C1 số tiền 30.207.502.9000 đồng.

Đồng thời, từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024, Lưu Chấn T có hành vi mua bán 24 tài khoản ngân hàng của các doanh nghiệp khác thu lợi bất chính 42.900.000 đồng, T cùng với Cao Thiên Á và Nguyễn Tấn H2 mua bán 02 tài khoản ngân hàng đứng tên các doanh nghiệp khác thu lợi bất chính 8.700.000 đồng. Do đó, Lưu Chấn T đã phạm tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” với số tiền thu lợi bất chính là 51.600.000 đồng.

Hành vi trên của T, Á và H2 là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực tài chính ngân hàng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi trái pháp luật khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để trừng trị, giáo dục các bị can và phòng ngừa tội phạm.

Do đó, cáo trạng số: 26/CT-VKSBĐ-P2 ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Lưu Chấn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo điểm d khoản 2 Điều 291 Bộ luật Hình sự; Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [3.1] Về nhân thân: Bị cáo Lưu Chấn T và bị cáo Nguyễn Tấn H2 có nhân thân xấu, Cao Thiên Á có nhân thân tốt.
  • [3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lưu Chấn T, Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • [3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử các bị cáo Lưu Chấn T, Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T đã tác động gia đình nộp 10.000.000 đồng thu lợi bất chính, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với:

  • 01 (một) điện thoại di động, màu xanh, phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI 1: 350272250758100, số IMEI 2: 350805480758109, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Lưu Chấn T) và 01 (một) điện thoại di động, mặt sau màu xanh có chữ OPPO, có số IMEI 1: 869563044818653, số IMEI 2: 869563044818646, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Cao Thiên Á ). Bị cáo T và Á sử dụng điện thoại này trong việc liên lạc qua mạng xã hội làm giả giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, căn cước công dân, mở tài khoản ngân hàng đứng tên doanh nghiệp, sau đó bán tài khoản kiếm lời. Các điện thoại hiện có giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, còn sim điện thoại không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) thẻ ATM ngân hàng S, số thẻ: 5174160009544843, số tài khoản: 050130335354, ngày mở: 09/21, ngày hết hạn: 09/26 mang tên NGUYEN TAN HOA và 01 (một) căn cước công dân có tên Nguyễn Tấn H2, sinh ngày 25/4/1994, giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Quê quán: Vân Canh, Bình Định; số căn cước: [...]; cấp ngày 14/5/2023, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi thường trú: 42/13 Hồ Tùng M1, T, Buôn Ma T5, Đ. Đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo Nguyễn Tấn H2, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo H2.
  • 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Oppo, có số IMEI 1: 868289051693331, số IMEI 2: 868289051693323 là tài sản cá nhân của anh Trần Dương Thanh H3, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho anh H3.
  • 01(một) CPU máy tính màu hồng, mặt trước có chữ VSP và 01 (một) màn hình máy vi tính màu hồng, có chữ VSP, kiểu máy V2408S là tài sản cá nhân của bị cáo Lưu Chấn T, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo T.
  • 01 (một) hộp dấu đỏ tròn có chữ CÔNG TY TNHH T6; MSDN: 4300896401-CTTNHH, TP., tỉnh Quảng Ngãi. Đây là tài sản các bị cáo tự đặt làm, liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • Lưu vào hồ sơ vụ án: 01(một) căn cước công dân mang tên Lê Hoàng L1.

[5] Về biện pháp tư pháp:

Bị cáo Lưu Chấn T thu lợi bất chính 49.000.000 đồng từ hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức và mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng, đã nộp 10.000.000đồng theo biên lai thu tiền số 0001765 ngày 04/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định. Bị cáo T còn phải nộp 39.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính sung vào ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo Cao Thiên Á thu lợi bất chính 2.000.000 đồng, Nguyễn Tấn H2 thu lợi bất chính 1.000.000 đồng từ hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức, nên mỗi bị cáo phải nộp sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Lưu Chấn T bị kết án về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”; các bị cáo Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 bị kết án về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của HĐXX, nên được chấp nhận.

[8] Vấn đề khác:

Đối với Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 có hành vi cùng với Lưu Chấn T mua bán 02 tài khoản ngân hàng đứng tên Công ty TNHH T6 mở tại Ngân hàng V và Công ty TNHH T8 mở tại Ngân hàng T9, thu lợi bất chính 8.700.000 đồng. Hành vi của Á và H2 chưa đủ yếu tố phạm tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo Điều 291 Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng làm căn cước công dân giả mang tên Lê Hoàng L1, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 341; điểm d khoản 2 Điều 291; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lưu Chấn T

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Thiên Á và bị cáo Nguyễn Tấn H2.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Lưu Chấn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”. Các bị cáo Cao Thiên Á, Nguyễn Tấn H2 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

  2. Về hình phạt:
    1. Xử phạt bị cáo Lưu Chấn T 03(ba) năm 03(ba) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”. Tổng hợp hình phạt 2 tội là 03(ba) năm 09(chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 02/5/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Cao Thiên Á 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 02/5/2024.
    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H2 02(hai) năm 03(ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 02/5/2024.
  3. Về xử lý vật chứng:
    1. [3.1] Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
      • 01(một) bì thư dán kín đã được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 11/9/2024; Bên trong có 01 (một) điện thoại di động, màu xanh, phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI 1: 350272250758100, số IMEI 2: 350805480758109, không kiểm tra chất lượng bên trong (đã được niêm phong).
      • 01(một) bì thư dán kín đã được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 13/9/202401. Bên trong có 01(một) điện thoại di động, mặt sau màu xanh có chữ OPPO, có số IMEI 1: 869563044818653, số IMEI 2: 869563044818646, không kiểm tra chất lượng bên trong (đã được niêm phong).
    2. [3.2] Trả lại:
      • Cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Dương Thanh H3: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Oppo, có số IMEI 1: 868289051693331, số IMEI 2: 868289051693323 (không kiểm tra chất lượng bên trong).
      • Cho bị cáo Nguyễn Tấn H2: 01 (một) thẻ ATM ngân hàng S, số thẻ: 5174160009544843, số tài khoản: 050130335354, ngày mở: 09/21, ngày hết hạn: 09/26 mang tên NGUYEN TAN HOA; 01 (một) căn cước công dân có tên Nguyễn Tấn H2, sinh ngày 25/4/1994, giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Quê quán: Vân Canh, Bình Định; số căn cước: [...]; cấp ngày 14/5/2023, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi thường trú: 42/13 Hồ Tùng M1, T, Buôn Ma T5, Đ.
      • Cho bị cáo Lưu Chấn T: 01 (một) CPU máy tính màu hồng, mặt trước có chữ VSP (đã được niêm phong); 01 (một) màn hình máy vi tính màu hồng, có chữ VSP, kiểu máy V2408S, không kiểm tra chất lượng bên trong (đã được niêm phong).
    3. [3.3] Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp dấu đỏ tròn có chữ CÔNG TY TNHH T6; MSDN: 4300896401-CTTNHH, Tp., tỉnh Quảng Ngãi.
    4. [3.4] Lưu vào hồ sơ vụ án: 01(một) căn cước công dân mang tên Lê Hoàng L1.
  4. Biện pháp tư pháp:

    Bị cáo Lưu Chấn T thu lợi bất chính 49.000.000 đồng, đã nộp lại 10.000.000đồng theo biên lai thu tiền số 0001765 ngày 04/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định. Bị cáo T còn phải nộp 39.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính sung vào ngân sách Nhà nước.

    Sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000₫ theo biên lai thu tiền số 0001765 ngày 04/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định (bị cáo Lưu Chấn T đã nộp).

    Các bị cáo Cao Thiên Á phải nộp 2.000.000 đồng, Nguyễn Tấn H2 phải nộp 1.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính sung vào ngân sách Nhà nước.

  5. Về án phí: Các bị cáo Lưu Chấn T, Cao Thiên Á và Nguyễn Tấn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP Công an tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh Bình Định
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Đình Phùng Lê Văn Duy Nguyễn Văn H4

Nguyễn Thị Diệu Thu Huỳnh Thị Kim Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và Tội Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger