TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày: 26 - 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thương
Ông Nguyễn Đức Binh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Phan Văn T (tên gọi khác: Gà rừng), sinh năm 1997, tại Bình Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H và bà Bùi Thị H1; Vợ, con: chưa có;
Tiền án:
- Ngày 18/4/2019, bị Toà án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 16/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2019.
- Ngày 14/5/2021, bị Toà án nhân dân huyện Tánh Linh xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo Bản án số 25/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2023.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 04/10/2024, bị tạm giữ từ ngày 04/10/2024 đến ngày 13/10/2024 bị tạm giam cho đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Cao Lưu Anh N, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ E, thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Phan Văn H, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
Người chứng kiến:
- Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ F, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, Phan Văn T có ý định sử dụng ma tuý nên sử dụng mạng xã hội gọi cho người tên H2 (không xác định được nhân thân, lai lịch) mua 1.600.000 đồng ma tuý. Sau khi nhận, T đem ma tuý về nhà của mình rồi lấy một ít ra sử dụng. Số ma tuý còn lại T chia thành từng phần nhỏ không đều bỏ vào 08 gói nylon, trong đó: 02 gói nylon cùng kích thước (3 x 2,3)cm; 03 gói nylon cùng kích thước (2,5 x 2)cm; 02 gói nylon cùng kích thước (2,5 x 1,3)cm và 01 gói nylon kích thước (3 x 1,4)cm và bỏ vào 01 gói ny lon kích thước (7 x 4)cm. T luôn mang theo số ma tuý này bên người để khi thuận tiện sẽ lấy ma tuý ra sử dụng.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/10/2024, T điều khiển xe môtô hiệu Attila màu sơn đỏ, biển số 93M1-025.25 của Cao Lưu Anh N, sinh năm 1993 trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ đến khu vực xóm C, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ chơi. T dừng xe trên đường đứng bấm điện thoại và cầm số ma túy này trên tay. Khoảng 15 phút sau, T thấy lực lượng Công an thị trấn Đ đi tuần tra, sợ bị phát hiện nên T ném gói nylon bên trong chứa 08 gói nylon nhỏ chứa ma tuý đá xuống mặt đường N cách vị trí T đang đứng khoảng 0,5m thì bị Công an thị trấn Đ phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc.
Tại Kết luận giám định số 1305/KL- KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu cần giám định: 01 gói nylon, kích thước (7 x 4)cm, có khóa kéo viền đỏ, bên trong có 08 (tám) gói nylon (gồm 02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói được hàn kín), bên trong 08 gói nylon này đều có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M).
Kết luận đối tượng giám định: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,0440 gam; là Methamphetamine.
H3 lại đối tượng giám định: 01 gói nylon kích thước khoảng (7 x 4)cm, có khóa kéo viền đỏ; 08 gói nylon gồm (02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói cắt lấy mẫu) và 0,9493 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 1305, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B.
Vật chứng trong vụ án:
- 01 gói nylon kích thước (7 x 4)cm, có khóa kéo viền đỏ; 08 gói nylon gồm (02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói cắt lấy mẫu) và 0,9493 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 1305, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B.
- 01 xe môtô hiệu Attila màu sơn đỏ, biển số 93M1-025.25; 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh trắng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông Cao Lưu Anh N, ông Phan Văn H.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSÐL-HS ngày 16/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan.
Trong phần tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn T mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù;
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon kích thước (7 x 4)cm, có khóa kéo viền đỏ; 08 gói nylon gồm (02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói cắt lấy mẫu) và 0,9493 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 1305, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt đều không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, ông Cao Lưu Anh N nhưng đã có lời khai tại hồ sơ, đồng thời việc vắng mặt của bà L, ông N không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ; đối với việc vắng mặt người chứng kiến ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn T2 nhưng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông N, ông T1, ông T2 tại phiên tòa là phù hợp quy định tại các Điều 292, 296 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi và tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 04/10/2024, Công an thị trấn Đ tổ chức lực lượng tuần tra để đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Khi tổ tuần tra di chuyển đến trước số nhà B, hẻm B, đường N thuộc tổ H, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ thì phát hiện Phan Văn T, sinh năm 1997 trú tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ có những biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy tổ tuần tra, Phan Văn T ném một gói nylon xuống đường Nguyễn Viết X gần vị trí T đứng và bên cạnh là xe mô tô hiệu Attila màu đỏ biển số 93M1-025.25. Công an thị trấn Đ giữ T lại và tiến hành kiểm tra gói nylon mà T ném xuống đường. Qua kiểm tra phát hiện, cách vị trí T đứng 0,5m có 01 gói nylon kích thước (7 x 4)cm, được hàn kín, một đầu có khóa kéo viền màu đỏ, bên trong gói nylon có chứa 08 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, trong đó: 02 gói nylon cùng kích thước (3 x 2,3)cm; 03 gói nylon cùng kích thước (2,5 x 2)cm; 02 gói nylon cùng kích thước (2,5 x 1,3)cm và 01 gói nylon kích thước (3 x 1,4)cm. Phan Văn T khai nhận 08 gói nylon bị thu giữ bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng 1,0440 gam là Methamphetamine (Kết luận giám định số 1305/KL- KTHS ngày 11/10/2024) của T cất giấu nhằm mục đích sử dụng.
Phan Văn T là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Hành vi cất giấu 1,0440 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại lớn đối với sức khỏe và nhân cách của con người, làm thiệt hại kinh tế của gia đình cũng như xã hội và là một trong những nguyên nhân nảy sinh của các loại tội phạm khác; ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 18/4/2019, tại Bản án số 16/2019/HSST P bị Toà án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2019 chưa được xoá án tích nhưng tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý nên tại Bản án số 25/2021/HSST, ngày 14/5/2021 bị Toà án nhân dân huyện Tánh Linh xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam, với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2023, mặc dù chưa được xoá án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 gói nylon kích thước (7 x 4)cm, có khóa kéo viền đỏ; 08 gói nylon gồm (02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói cắt lấy mẫu) và 0,9493 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 1305, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B là vật chứng không có giá trị, chất cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sư;
[8] Liên quan trong vụ án: Phan Văn T khai nhận nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ do bị cáo mua của một thanh niên tên H2 tại xã N, huyện Đ trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ nơi ở nên cần tiếp tục điều tra, làm rõ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Phạt: Phan Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang (ngày 04/10/2024).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon kích thước (7 x 4)cm, có khóa kéo viền đỏ; 08 gói nylon gồm (02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói cắt lấy mẫu) và 0,9493 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 1305, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B.
(Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành hành án Dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;
Buộc Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Tiến- Tàng trữ trái phép chất ma tuý
