Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly

Ông Nguyễn Trung Kiên

- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vàng Thị C; Sinh ngày 10/01/1978 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A V, (đã chết, không xác định được năm sinh) và bà Giàng Thị B (đã chết, không xác định được năm sinh); Bị cáo có chồng là Giàng A C1, sinh năm 1976 và có 05 con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/10/2017, Vàng Thị C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 01 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 05/2017/HS-ST ngày 30/10/2017). Bị cáo đã chấp hành xong bản án trên ngày 29/12/2018, đã được xóa án tích;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/6/2024, tạm giam từ ngày 27/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).

2. Họ và tên: Giàng A T; Sinh ngày 01/01/1960 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A S, sinh năm 1936 (đã chết) và bà Giàng Thị S1, sinh năm 1936 (đã chết); Bị cáo có vợ là Lầu Thị M, sinh năm 1962 và có 07 con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/9/2006, Giàng A T bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 26 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 60/2006/HSST ngày 20/9/2006). Ngày 10/3/2015, Giàng A T bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 38/2015/HSST ngày 10/3/2015). Giàng A T đã chấp hành xong hai bản án trên từ ngày 21/01/2017, hiện đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/6/2024, tạm giam từ ngày 27/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).

* Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, gồm: Các bị cáo: Vàng Thị C, Giàng A T. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Vàng Thị C khai nhận: tối ngày 13/6/2024, Vàng Thị C đang một mình ở nhà tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thì có một người phụ nữ (không rõ lai lịch) đến nhà Vàng Thị C. Qua nói chuyện, Vàng Thị C đã mua của người phụ nữ đó 01 gói Thuốc phiện với số tiền 17.000.000 đồng. Người phụ nữ bán Thuốc phiện đồng ý cho Vàng Thị C mua nợ gói Thuốc phiện đó, khi nào bán được thì sẽ trả tiền sau. Mua được Thuốc phiện, Vàng Thị C cất giấu vào trong bao sắn tại gian nhà kho của gia đình, không cho ai biết, mục đích để bán.

Tối ngày 16/6/2024, khi Vàng Thị C đang ở nhà một mình thì người phụ nữ bán Thuốc phiện cho Vàng Thị C (trước đó) lại đến nhà C. Qua nói chuyện, Vàng Thị C tiếp tục mua của người phụ nữ này 01 gói Heroine với số tiền 5.000.000 đồng (thỏa thuận mua nợ, khi nào bán được thì trả tiền sau). Mua được H, Vàng Thị C cất giấu vào trong bao sắn cùng với gói Thuốc phiện mua từ hôm trước, không cho ai khác biết, mục đích: để sử dụng và bán. Ngoài ra, người phụ nữ đó còn đưa cho Vàng Thị C 01 cân tiểu ly.

Đến sáng ngày 18/6/2024, Vàng Thị C lấy gói Heroine trong bao sắn ra, bẻ một ít sử dụng bằng hình thức hít trên giấy bạc. Số H đã bẻ ra chưa sử dụng hết, Vàng Thị C gói lại thành 02 gói, để 01 gói ở đầu giường ngủ và cất giấu 01 gói vào lỗ viên gạch để tại kho thóc trong nhà Vàng Thị C. Còn gói Heroine ban đầu, Vàng Thị C cất giấu trong bao sắn cùng với gói Thuốc phiện.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Vàng Thị C đang ở nhà một mình thì có Giàng A T đến gặp Vàng Thị C hỏi mua Heroine. Giàng A T đưa cho Vàng Thị C 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, nhận tổng số tiền 200.000 đồng, Vàng Thị C đi vào kho thóc trong nhà, lấy gói Heroine trong bao sắn ra, bẻ lấy một ít chia thành 02 gói (đều gói bằng nilon màu xanh) bán cho Giàng A T. Mua được H, Giàng A T cầm 02 gói Heroine trong tay đi bộ quay về thì bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý vào hồi 10 giờ 40 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Giàng A T là 02 gói Heroine (đều gói bằng nilon màu xanh).

Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Vàng Thị C, Cơ quan điều tra thu giữ tại đầu giường ngủ của Vàng Thị C 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy bạc đã bị than hóa); thu giữ trong lỗ viên gạch tại kho thóc trong nhà Vàng Thị C 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu xanh); thu giữ trong bao sắn để tại kho thóc trong nhà Vàng Thị C 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu xanh) và 01 gói Thuốc phiện (được gói bằng nilon màu trắng). Vàng Thị C đã tự giác giao nộp số tiền 200.000 đồng do bán Heroine cho Giàng A T mà có. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Vàng Thị C 01 cân tiểu ly.

Tại các bản kết luận giám định tư pháp số 872, số 873 cùng ngày 18/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện T và Kết luận giám định số 807 ngày 21/6/2024, số 808 ngày 22/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Giàng A T có tổng khối lượng là 0,31 gam, là ma túy, loại: Heroine (Heroin); số chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Thị C có tổng khối lượng là 7,98 gam, là ma túy, loại: Heroine (Heroin); số chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ của Vàng Thị C có khối lượng 72,64 gam, là ma túy, loại: Thuốc phiện. Bản kết luận giám định số 809/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (thu giữ của Vàng Thị C) gửi giám định là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,31 gam Heroine thu giữ của Giàng A T, đã trích 0,1 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật), còn lại 0,21 gam; 7,98 gam Heroine thu giữ của Vàng Thị C, đã trích 0,96 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật), còn lại: 7,02 gam; 72,64 gam Thuốc phiện thu giữ của Vàng Thị C, đã trích 2,79 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật), còn lại 69,85 gam; 04 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 04 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 cân tiểu ly, số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vàng Thị C. Các vật chứng còn lại của vụ án hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Vàng Thị C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Giàng A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Giàng A T; rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Vàng Thị C do có căn cứ xác định hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” của Vàng Thị C không thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng Thị C 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Thị C. Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giàng A T.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,21 gam Heroine, 02 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu thu giữ của Giàng A T; 7,02 gam Heroine và 69,85 gam Thuốc phiện thu giữ của Vàng Thị C, 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 03 vỏ bì niêm phong ban đầu thu giữ của Vàng Thị C; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vàng Thị C; trả lại cho Vàng Thị C 01 cân tiểu ly.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn cho các bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà, Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Vàng Thị C do có căn cứ xác định hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” của Vàng Thị C không thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Tối ngày 13/6/2024, tại bản Sắp Ngụa, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng Thị C đã mua trái phép 01 gói Thuốc phiện có khối lượng 72,64 gam với giá thỏa thuận (mua nợ) là 17.000.000 đồng từ một người phụ nữ không rõ lai lịch, mục đích để bán. Đến tối ngày 16/6/2024, tại bản Sắp Ngụa, xã P, huyện T, Vàng Thị C tiếp tục mua trái phép 01 gói Heroine với giá thỏa thuận (mua nợ) là 5.000.000 đồng từ một người phụ nữ không rõ lai lịch, mục đích: để sử dụng và bán. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, tại bản Sắp Ngụa, xã P, huyện T, Vàng Thị C đã bán trái phép 02 gói Heroine cho Giàng A T lấy số tiền 200.000 đồng. Mua được H, Giàng A T mang về, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang hồi 10 giờ 40 phút cùng ngày tại bản Sắp Ngụa, xã P, huyện T, thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,31 gam. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Vàng Thị C, Cơ quan điều tra thu giữ 7,98 gam Heroine, 72,64 gam Thuốc phiện và số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có.

Các bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Vàng Thị C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với khối lượng H đã bán cho Giàng A T cùng với số Heroine và Thuốc phiện thu giữ của Vàng Thị C, gồm: 0,31 gam Heroine + 7,98 gam Heroine = 8,29 gam Heroine và 72,64 gam Thuốc phiện. Căn cứ Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định: Vàng Thị C mua bán trái phép: 8,29 gam Heroine, bằng 27,6% so với mức tối thiểu đối với Heroine (30 gam) quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và 72,64 gam Thuốc phiện, bằng 7,26% so với mức tối thiểu đối với Thuốc phiện (01 kg) quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tổng tỷ lệ: 27,6% + 7,26% = 34,86%. Như vậy, tổng khối lượng các chất ma túy Vàng Thị C mua bán trong vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Giàng A T phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép 0,31 gam Heroine.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng và rút một phần quyết định truy tố đối với Vàng Thị C là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T đều sinh sống tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Các bị cáo đều có gia đình nhưng đã không làm tròn trách nhiệm của người mẹ, người vợ, người chồng, người cha trong gia đình, làm ăn phát triển kinh tế, nuôi dạy con cái, làm gương cho các con. Các bị cáo sử dụng chất ma tuý dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội phạm ma tuý. Mặc dù đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân. Do nghiện ma tuý, muốn có ma tuý để phục vụ nhu cầu bản thân và thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý các bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội cho thấy thái độ coi thường pháp luật của các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, bản thân các bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định; Các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối bị cáo Vàng Thị C và theo quy định khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giàng A T.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 0,31 gam Heroine thu giữ của Giàng A T, Cơ quan điều tra đã gửi giám định 0,1 gam không hoàn lại mẫu vật nên không phải xử lý, còn lại 0,21 gam Heroine là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ;

Đối với 7,98 gam Heroine và 72,64 gam Thuốc phiện thu giữ của Vàng Thị C, Cơ quan điều tra đã gửi giám định 0,96 gam Heroine và 69,85 gam Thuốc phiện không hoàn lại mẫu vật nên không phải xử lý, còn lại 7,02 gam Heroine và 69,85 gam Thuốc phiện là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; nên cần tịch thu để tiêu huỷ; 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 03 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Vàng Thị C là tiền bị cáo do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 cân tiểu ly chưa chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Vàng Thị C.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Giàng A T, Vàng Thị C là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên rút một phần quyết định truy tố và đề nghị về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số Heroine thu giữ, bị cáo Vàng Thị C khai mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Thị C;

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giàng A T;

- Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố các bị cáo Giàng A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Vàng Thị C 08 (Tám) năm 04 (Bốn) tháng tù.
    • - Xử phạt bị cáo Giàng A T 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù.

    Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 18/6/2024.

  3. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,21 gam Heroine; 01 bì niêm phong bên trong đựng 7,02 gam Heroine và 69,85 gam Thuốc phiện; 01 phong bì đựng 02 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì đựng 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 03 vỏ bì niêm phong ban đầu.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Vàng Thị C.

    Trả lại cho bị cáo Vàng Thị C 01 cân tiểu ly (đã qua sử dụng).

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho các bị cáo Vàng Thị C, Giàng A T mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Vàng Thị Ch 08 (Tám) năm 04 (Bốn) tháng tù. - Xử phạt bị cáo Giàng A T 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 18/6/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger