Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 19/2025/KDTM-ST

Ngày : 26/3/2025

“ V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.

Các hội thẩm nhân dân :

  1. Ông Nguyễn Tấn Bình.
  2. Ông Phạm Ngọc Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Qui Nhơn tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/TLST-KDTM ngày 19/11/2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31 /2025/QĐXX-ST ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QĐST-KDTM ngày 14/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K

    Địa chỉ: 40-42-44 P, Vĩnh Thanh V, Rạch G, Kiên Giang.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Chủ tịch HĐQT

    Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

    • + Ông Đặng Trường T - Trưởng bộ phận xử lý nợ - Phòng xử lý nợ Ngân hàng TMCP K (vắng mặt).
    • + Ông Nguyễn Tấn P - Chuyên viên xử lý nợ - Phòng xử lý nợ Ngân hàng TMCP K (có mặt).
    • + Ông Nguyễn Quyết T1 - Chuyên viên cao cấp xử lý nợ - Phòng xử lý nợ Ngân hàng TMCP K (vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: I N, phường D, TP ., tỉnh Phú Yên.

    Là người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng TMCP K (Theo văn bản uỷ quyền số: 2074A/QĐ-NHKL ngày 29/76/2024).

  2. Bị đơn:
    • - Anh Phạm Long S, sinh năm: 1982 (vắng mặt)
    • - Chị Phan Thị Ái M1, sinh năm: 1987 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Tổ B, khu phố D, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 10 năm 2024 và các lời khai tiếp theo, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng TMCP K, ông Nguyễn Tấn P trình bày:

Ngân hàng TMCP K (gọi tắc là Ngân hàng K) và anh Phạm Long S, chị Phan Thị Ái M1 có ký kết hợp đồng tín dụng từng lần số 1321/21/HĐTD/2600-3280, ngày 11/11/2021, số tiền vay là: 1.380.000.000 đồng (một tỷ, ba trăm tám mươi triệu đồng) và Hợp đồng sử dụng hạn mức thấu chi số: 1341/21/HĐTD/2600-3280, ngày 11/11/2021, số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Để bảo đảm cho các khoản vay trên anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất được ký kết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sửa đổi, bổ sung số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382-01, ngày 11/11/2021 “Về việc sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021”. Cụ thể như sau:

  • + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BĐ 946468; số vào sổ cấp GCN: CH 00651 do UBND thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp ngày 22/03/2011; thửa đất số: 117A; tờ bản đồ số: 53; diện tích 57,8m²; hình thức sử dụng: riêng: 57,8m², chung - không; mục đích sử dụng đất: đất ở đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; Tọa lạc tại: Tổ B, khu V, phường Đ, Tp Q, tỉnh Bình Định. Chủ sở hữu: ông Phạm Long S và bà Phan Thị Ái M1.
  • + Tài sản gắn liền với đất: Loại nhà ở; Diện tích xây dựng: 57,8m²; Diện tích sàn: 57,8m²; Kết cấu: Tường gạch, nhà cấp 4; Số tầng: 01; Tọa lạc tại: Tổ B, khu V, phường Đ, Tp Q, tỉnh Bình Định.

Sau khi vay, anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 đã vi phạm vụ trả tiền cho Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử (ngày 26/3/2025), anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 còn nợ Ngân hàng K tổng số tiền là: 2.262.310.308 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm mươi nghìn, ba trăm lẻ tám đồng). Trong đó tiền gốc là 1.570.500.000đồng (một tỷ, năm trăm bảy mươi triệu, năm trăm nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh đến ngày 26/3/2025 là: 691.810.308 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K toàn bộ số tiền gốc và lãi tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 26/3/2025 là 2.262.310.308 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm mươi nghìn, ba trăm lẻ tám đồng).

Yêu cầu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ ngày 27/3/2025 cho Ngân hàng TMCP K theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP K và anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 cho đến khi anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng TMCP K.

Nếu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382 ngày 07/01/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sửa đổi, bổ sung số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382-01 ngày 11/11/2021 “Về việc sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382 ngày 07/01/2021” sẽ được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP K theo quy định pháp luật.

Về chi phí xem xét, thẩm định: Ngân hàng K đã tạm ứng 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), Tòa án đã thực hiện xong. Ngân hàng K yêu cầu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng K.

Bị đơn, chị Phan Thị Ái M1 trình bày tại bản khai ngày 06/12/2024:

Ngày 11/11/2021 vợ chồng tôi có vay của Ngân hàng K số tiền là 1.380.000.000 đồng (Một tỷ, ba trăm tám mươi triệu đồng), mục đích vay để mua bán hải sản khô, thời hạn vay là 12 tháng, theo hợp đồng tín dụng số: 1321/21/HĐTD/2600-3280, chúng tôi đã nhận tiền mặt theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 1321/KUNN ngày 11/11/2021. Cũng trong ngày 11/11/2021 vợ chồng tôi có ký kết hợp đồng tín dụng hạn mức thấu chi số: 1341/21/HĐTD/2600-3280 với số tiền thấu chi là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Mục đích sử dụng hạn mức thấu chi là để phục vụ đời sống. Tổng số tiền gốc mà vợ chồng tôi có nợ Ngân hàng K là: 1.580.000.000 đồng (một tỷ, năm trăm tám mươi triệu đồng).

Hiện nay vợ chồng tôi còn nợ Ngân hàng K số tiền gốc là: 1.570.500.000 đồng (một tỷ, năm trăm bảy mươi triệu, năm trăm nghìn đồng), trong đó nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là 1.380.000.000 đồng và tiền gốc của thấu chi là 190.500.000 đồng. Tính cả gốc và lãi theo đơn khởi kiện của Ngân hàng K thì hiện nay vợ chồng tôi còn nợ Ngân hàng là: 2.284.557.644 đồng (hai tỷ, hai trăm tám mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi bốn đồng).

Để đảm bảo cho khoản vay trên, vợ chồng tôi có thế chấp cho Ngân hàng K nhà đất tại tổ B, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BĐ 946468, số vào sổ cấp GCN: CH 00651 do UBND thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp ngày 22/3/2011, chủ sở hữu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1.

Sau khi đến hạn trả nợ, do không thanh toán được nên vợ chồng chị đã giao nhà và đất nói trên cho Ngân hàng.

Nay vợ chồng tôi thống nhất trả cho Ngân hàng tiền gốc và lãi nói trên theo yêu cầu của Ngân hàng nhưng xin trả dần hoặc khi nào bán được nhà thì trả dứt điểm cho Ngân hàng.

Bị đơn, anh Phạm Long S:

Vắng mặt trong những lần Tòa triệu tập lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đơn được.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

  • - Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng Dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật TTDS. Bị đơn anh Phạm Long S không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70 và 72 của Bộ luật TTDS.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, 466 và 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K:
    • + Buộc anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền là: 2.262.310.308 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm mươi nghìn, ba trăm lẻ tám đồng); trong đó nợ gốc là: 1.570.500.000 đồng và nợ lãi, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi là: 691.810.308 đồng. Anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 còn phảu chịu các khoản lãi phát sinh từ ngày 27/3/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết.
    • + Trường hợp anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382 ngày 07/01/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sửa đổi, bổ sung số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382-01 ngày 11/11/2021 “Về việc sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382 ngày 07/01/2021” sẽ được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
    • + Buộc anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải hoàn trả số tiền chi phí thẩm định tại chỗ là 4.000.000đồng cho Ngân hàng TMCP K.
    • + Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UB TVQH14 ngày 30/12/2016, anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là anh Phạm Long S đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào các bản khai của nguyên đơn, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có đầy đủ cơ sở để xác định:

Ngân hàng TMCP K đã cho anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 vay số tiền là 1.580.000.000 đồng (một tỷ, năm trăm tám mươi triệu đồng). Theo các hợp đồng vay cụ thể như sau:

  • - Hợp đồng tín dụng từng lần số 1321/21/HĐTD/2600-3280, ngày 11/11/2021, số tiền vay là: 1.380.000.000 đồng (một tỷ, ba trăm tám mươi triệu đồng);
  • - Hợp đồng sử dụng hạn mức thấu chi số: 1341/21/HĐTD/2600-3280, ngày 11/11/2021, số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

Để bảo đảm cho các khoản vay trên anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất được ký kết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sửa đổi, bổ sung số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382-01, ngày 11/11/2021 “Về việc sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021”. Cụ thể như sau:

  • + Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BĐ 946468; số vào sổ cấp GCN: CH 00651 do UBND thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp ngày 22/03/2011; thửa đất số: 117A; tờ bản đồ số: 53; diện tích 57,8m²; hình thức sử dụng riêng: 57,8m², chung - không; mục đích sử dụng đất: đất ở đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; Tọa lạc tại: Tổ B, khu V, phường Đ, Tp Q, tỉnh Bình Định. Chủ sở hữu: anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1.
  • + Tài sản gắn liền với đất: Loại nhà ở; Diện tích xây dựng: 57,8m²; Diện tích sàn: 57,8m²; Kết cấu: Tường gạch, nhà cấp 4; Số tầng: 01; Tọa lạc tại: Tổ B, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Trong quá trình vay vốn anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc anh S, chị M1 trả nợ cho Ngân hàng nhưng vợ chồng anh S, chị M1 không thực hiện. Hiện nay toàn bộ khoản vay của anh S, chị M1 tại Ngân hàng TMCP K đã chuyển sang nợ xấu.

Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 26/3/2025 là: 2.262.310.308 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm mươi nghìn, ba trăm lẻ tám đồng); trong đó:

  • + Nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là: 1.380.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 51.698.959 đồng; lãi quá hạn là : 520.596.493 đồng và phạt chậm trả lãi là: 12.970.032 đồng.
  • + Nợ gốc của thẻ tín dụng là: 190.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 9.297.918 đồng; lãi quá hạn là: 94.915.973 đồng và phạt chậm trả lãi là: 2.330.933 đồng.

Yêu cầu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ ngày 27/3/2025 cho Ngân hàng TMCP K theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP K và anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 cho đến khi anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ tại Ngân hàng TMCP K.

Nếu anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382 ngày 07/01/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sửa đổi, bổ sung số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382-01 ngày 11/11/2021 “Về việc sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382 ngày 07/01/2021” sẽ được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

Bị đơn chị Phan Thị Ái M1 thống nhất trả nợ cho Ngân hàng TMCP K nhưng xin trả dần hoặc khi nào bán được nhà thì trả dứt điểm cho Ngân hàng. Yêu cầu của chị M1 không được Ngân hàng chấp nhận và không phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX không chấp nhận.

Bị đơn, anh Phạm Long S được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có ý kiến phản hồi.

Do bị đơn, vợ chồng anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên Ngân hàng TMCP K đã khởi kiện. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải chịu 77.246.206 (Bảy mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ sáu) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCK số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.845.000 (Ba mươi tám triệu tám trăm bốn lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000840 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Tòa đã tiến hành xem xét, thẩm định tài sản là 4.000.000 (bốn triệu) đồng đã chi xong. Ngân hàng TMCP K đã tạm ứng nên anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng TMCP K 4.000.000 (bốn triệu) đồng.

[5] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 295, 299, 302, 317, 318 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.
    1. Buộc anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền là: 2.262.310.308 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm mươi nghìn, ba trăm lẻ tám đồng); trong đó:
      • + Nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là: 1.380.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 51.698.959 đồng; lãi quá hạn là: 520.596.493 đồng và phạt chậm trả lãi là: 12.970.032 đồng.
      • + Nợ gốc của thẻ tín dụng hạn mức thấu chi là: 190.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 9.297.918 đồng; lãi quá hạn là: 94.915.973 đồng và phạt chậm trả lãi là: 2.330.933 đồng.

      Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng từng lần số 1321/21/HĐTD/2600-3280, ngày 11/11/2021 và Hợp đồng sử dụng hạn mức thấu chi số: 1341/21/HĐTD/2600-3280, ngày 11/11/2021.

    2. Trường hợp anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sửa đổi, bổ sung số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382-01, ngày 11/11/2021 “Về việc sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021”, được Công chứng tại Văn Phòng C ngày 07/01/2021 và ngày 11/11/2021; Đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh thành phố Quy Nhơn ngày 07/01/2021 sẽ được xử lý thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
    3. Ngân hàng TMCP K có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 các giấy tờ liên quan theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sửa đổi, bổ sung số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382-01, ngày 11/11/2021 “Về việc sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 035/21/HĐTC-BĐS/2600-5382, ngày 07/01/2021”, được Công chứng tại Văn Phòng C ngày 07/01/2021 và ngày 11/11/2021 ngay sau khi anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền cho Ngân hàng TMCP K.
  2. Về án phí:
    1. Anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải chịu 77.246.206 (Bảy mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    2. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.845.000 (Ba mươi tám triệu tám trăm bốn lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000840 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định: Anh Phạm Long S và chị Phan Thị Ái M1 phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng TMCP K 4.000.000 (bốn triệu đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, anh Phạm Long S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
    1. Trường hợp bán án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

-VKSND Tp. Quy Nhơn;

-TAND tỉnh Bình Định;

-Đương sự;

-Lưu HS.

Huỳnh Thị Ngọc Lan

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Ngọc Lan

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà

Nguyễn Tấn Bình Phạm Ngọc Đông

Huỳnh Thị Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/KDTM-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 19/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Kiên L - Phạm Long S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger