Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 19/2025/HSST

Ngày: 27 – 3 – 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Trần Thị Toàn
  2. Ông Nguyễn Tiến Thị

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh và điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/HSST ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/XXHSST - HS, ngày 13/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 08/4/1983, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; con ông: Nguyễn Đình V; con bà: Võ Thị N; vợ: Võ Thị Thanh H (Đã ly hôn); con: Có hai con, đứa lớn nhất sinh năm 2008, đứa nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Quốc T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2025 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Bị hại:

Dương Thị T1 – sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Võ Thị N – sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch; nghề nghiệp: Già yếu (Có mặt)

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Trần Thị Hải Y- sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

Tại điểm cầu trại tạm giam Công an tỉnh H

Ông Nguyễn Đình Q, chức vụ: Tổ trưởng tổ hình ảnh thuộc trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt)

Ông Nguyễn Trung T2, chức vụ: Tổ viên tổ hình ảnh thuộc trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt)

Ông Nguyễn Đình Đ, chức vụ: Tổ trưởng tổ hình ảnh thuộc trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt)

Ông Nguyễn Đình P, chức vụ: Tổ trưởng tổ hình ảnh thuộc trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc T và chị Dương Thị T1, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đều đã có gia đình, nhưng khoảng đầu năm 2024 hai người có phát sinh tình cảm yêu thương nhau, nên thường xuyên nhắn tin với nhau qua mạng xã hội Z và cùng nhau đi chơi rồi T sử dụng điện thoại của mình quay lại một đoạn Video Clip có hình ảnh nhạy cảm của chị T1 lưu vào trong điện thoại di động của T làm kỷ niệm. Khoảng đầu tháng 8/2024 T nảy sinh ý định sử dụng đoạn Video Clip có hình ảnh nhạy cảm của chị T1, T quay lại trước đó đe doạ chị T1 lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tiếp đó trưa ngày 11/8/2024, T đi xe ô tô Taxi đến chợ P1, ở thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh gặp chị T1 đang bán hàng trong chợ hỏi vay 1.500.000 đồng có việc, nhưng chị T1 không đồng ý cho T vay, nên T lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Promax của mình ra mở đoạn Video Clip có hình ảnh nhạy cảm của chị T1 do T quay lại trước đó cho chị T1 xem và nói, nếu không đưa tiền cho T thì T sẽ sử dụng đoạn Video Clip trên cũng như những hình ảnh nhạy cảm được cắt ra từ Video Clip gửi cho chồng, người thân, bạn bè biết, đồng thời sẽ gửi cho những người bán hàng trong chợ, nơi chị T1 bán hàng biết. Xem xong đoạn Video Clip chị T1 ngăn cản T rồi nói với T đi về nhà có gì sẽ liên lạc qua điện thoại, nên T đi về. Đến chiều cùng ngày T tiếp tục nhắn tin cho chị T1 yêu cầu chị T1 chuyển tiền vào số tài khoản 1046421714 của T mở tại Ngân hàng V1 rồi T sẽ xoá đoạn Video Clip, nếu không T sẽ đăng Video Clip đó lên mạng xã F. Sau nhiều lần bị Nguyễn Quốc T đe dọa và sợ mối quan hệ tình cảm yêu thương nhau với T bị chồng, người thân, bạn bè biết, nên trong khoảng thời gian từ ngày 12/8/2024 đến ngày 24/8/2024 chị T1 đã 05 (Năm) lần chuyển tiền cho T cụ thể như sau:

+ Lần thứ nhất: Vào lúc 18 giờ 34 phút tối ngày 12/8/204, chị Dương Thị T1 đến cửa hàng vàng bạc Kim Hưng Y1, ở tổ dân phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh bán vàng rồi nhờ chị Trần Thị Hải Y, sinh năm 1988, chủ cửa hàng vàng bạc Kim Hưng Y1 sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ số tài khoản 52294444666 ngân hàng V1 của chị Y1 vào số tài khoản 1046421714 của Nguyễn Quốc T rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.

+ Lần thứ hai: Vào lúc 10 giờ 14 phút trưa ngày 13/8/204, chị Dương Thị T1 sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển số tiền 1.300.000 đồng từ số tài khoản 19038389841011 của chị T1 mở tại ngân hàng T4 vào số tài khoản 1046421714 của Nguyễn Quốc T rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển, nhận tiền.

+ Lần thứ ba: Vào lúc 16 giờ 13 phút chiều ngày 14/8/2024, chị Dương Thị T1 sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển vào tài khoản 10.000.000 đồng, rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.

+ Lần thứ tư: Vào lúc 14 giờ 12 phút chiều ngày 14/8/2024, chị Dương Thị T1 sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển vào tài số tài khoản 1046421714 của Nguyễn Quốc T số tiền 15.000.000 đồng, rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.

+ Lần thứ năm: Vào lúc 20 giờ 17 phút tối ngày 24/8/2024, chị Dương Thị T1 sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển vào tài số tài khoản 1046421714 của Nguyễn Quốc T số tiền 800.000 đồng, rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.

Tổng cộng Nguyễn Quốc T đã 05 (Năm) lần, đe dọa yêu cầu chị Dương Thị T1 chuyển tiền vào tài khoản 1046421714 do Nguyễn Quốc T cung cấp, chiếm đoạt với tổng số tiền 37.100.000 đồng (Ba mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng), lấy chi tiêu cá nhân.

Sau khi nhận tiền, T tiếp tục nhắn tin đe dạo chị T1 yêu cầu chuyển tiền, nên ngày 01/01/2025, chị Dương Thị T1 làm đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh tố giác về hành vi chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Quốc T. Tiếp đó ngày 02/01/2025, Nguyễn Quốc T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ: Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18, màu đen, số IMEI1: 863178060471737; số IMEI2 : 863178060471729, gắn sim số 0978015283 và 0966461828, do Nguyễn Quốc T giao nộp, hiện nay đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT- VKSKA ngày 18 tháng 02 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".

Về hình phạt: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Quốc T từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/01/2025

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tich thu tiêu hủy một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18, màu đen, số IMEI1: 863178060471737; số IMEI2: 863178060471729 và 02 sim số 0978015283, 0966461828

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T Phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát

Lời nói sau cùng của bị cáo là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Nguyễn Quốc T và chị Dương Thị T1, đều đã có gia đình, nhưng lại phát sinh tình cảm yêu thương nhau và từng đi chơi với nhau, rồi T quay lại một đoạn Video Clip có hình ảnh nhạy cảm của chị T1 lưu vào trong điện thoại di động của T làm kỷ niệm. Sau đó do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên T đã nảy sinh ý định sử dụng đoạn Video Clip trước đó đi chơi cùng với chị T1 nhắn tin đe dọa chị T1, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, từ đó trong khoảng thời gian từ ngày 12/8/2024 đến ngày 24/8/2024, Nguyễn Quốc T đã 05 (Năm) lần yêu cầu chị Dương Thị T1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng số 01046421714 mở tại ngân hàng V1 do Nguyễn Quốc T cung cấp, chiếm đoạt với tổng số tiền 37.100.000 đồng (Ba mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng), lấy chi tiêu cá nhân.

Hành vi của Nguyễn Quốc T cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[3]. Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi sử dụng các hình ảnh, thông tin cá nhân thuộc bí mật đời tư để đe dọa uy hiếp tinh thần, chiếm đoạt của chị Dương Thị T1 tổng số tiền 37.100.000 đồng của Nguyễn Quốc T là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, bị cáo không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Quốc T được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú, bố bị cáo được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy cần áp dụng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cũng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000đ đến 100.000.000đ, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Đối với các vấn đề liên quan: Đối với đoạn Video Clip (02 giây) T ghi lại cảnh chị T1 không mặc áo trong nhà nghĩ. Quá trình điều tra làm rõ đoạn Video Clip này T sử dụng để đe dạo chị T1, chưa phát tán hay gửi cho người nào khác. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không xem xét xử lý.

[6]. Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ: Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18, màu đen, số IMEI1: 863178060471737; số IMEI2: 863178060471729, gắn sim số 0978015283 và 0966461828, do Nguyễn Quốc T giao nộp. Hội đồng xét xử xét thấy vật chứng nói trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, trong điện thoại đang lưu các hình ảnh, Video của chị T1 có nội dung chị T1 không mặc áo trong nhà nghĩ và hiên điện thoại đó không còn giá trị sử dụng. Do đó cẩn tich thu tiêu hủy chiếc điện thoại di động và 02 sim số 0978015283 và 0966461828 nói trên, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại chị Dương Thị T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Quốc T bồi thường số tiền bị chiếm đoạt là 37.100.000 đồng (Ba mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho người bị hại theo yêu cầu, nay người bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản"
  2. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Quốc T 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 02/01/2025
  3. Về vật chứng vụ án: Tich thu tiêu hủy một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18, màu đen, số IMEI1: 863178060471737; số IMEI2 : 863178060471729 và 02 sim số 0978015283, 0966461828
  4. Về án phí: Xử buộc Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐKT;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC10;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Trại tạm giam;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 19/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc T phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger