Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số 19/2025/HS-ST

Ngày 24 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Công Hiến.
  2. Ông Hà Xuân Ninh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Trịnh Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS, ngày 03/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST - HS ngày 12/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Thị H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1970 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm E P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: kinh doanh; giới tính: nữ; trình độ văn hoá: lớp 7/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công Giáo; con ông Trần Văn N (Trần Hải N1) và bà Phạm Thị H1; có chồng là Bùi Đình H2 và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; bị cáo H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 23/01/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa
  2. Họ và tên: Bùi Thị N2, tên gọi khác: Không, sinh năm 1977 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm E P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; giới tính: nữ; trình độ văn hoá: lớp 7/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công Giáo; con ông Bùi Đình T (đã chết) và bà Trần Thị P; có chồng là Nguyễn Văn H3 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 03/01/2019 Công an huyện G phạt 1.500.000đ về hành vi: “Đánh bạc”;, bị cáo N2 chấp hành nộp phạt ngày 08/01/2019; bị cáo N2 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 23/01/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa
  3. Họ và tên: Nguyễn Thành T1, tên gọi khác: Không, sinh năm 1963 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn F, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Đại lý xổ số; giới tính: nam; trình độ văn hoá: lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thế B (đã chết) và bà Phạm Thị N3 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T2 và có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; nhân thân : (1) tại bản án số 05/2002/HSST ngày 17/10/2002 của TAND huyện Gia Viễn xử phạt bị cáo T1 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy”; (2) tại bản án số 46/2015/HSST ngày 26/8/2015 của TAND huyện Gia Viễn phạt tiền 6.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, bị cáo T1 chấp hành xong bản án (tiền án phí và tiền phạt) ngày 14/10/2015; (3) Quyết định xử phạt hành chính số 28 ngày 11/01/2021 của Công an xã G phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi: “Đánh bạc”, bị cáo T1 chấp hành nộp phạt ngày 13/01/2021; bị cáo T1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 23/01/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Phùng Văn T3, sinh năm 1976; nơi cư trú: xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
  • - Chị Bùi Thị L, sinh năm 1976; nơi cư trú: xóm D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị H có mối quan hệ thân thiết với Bùi Thị N2 và Nguyễn Thành T1. Biết N2 và T1 thường bán số lô, đề cho nhiều người nên ngày 22/12/2024, H đã đến gặp N2 và T1, đề nghị N2 và Trung chuyển số lô, đề cho H, tiền thắng thua sẽ thanh toán vào sáng ngày hôm sau bằng tiền mặt. H thỏa thuận mỗi số lô Hà Nội bán cho N2 với giá 22.000 đồng, bán cho T1 với giá 21.800 đồng. Ngoài ra, H trả công cho N2 và T1 4% tổng số tiền mua số đề, 6% tổng số tiền mua các loại số ba càng, xiên hai, xiên ba, xiên bốn, N2 và T1 đồng ý. Cách thức chơi số lô, số đề như sau:

Số lô Hà Nội: Người mua số lô Hà Nội được chọn một số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99. Số lượng được tính bằng điểm, mỗi điểm lô Hà Nội do người mua và người bán thỏa thuận. Người mua sẽ phải trả cho người bán số tiền tương ứng với số điểm lô Hà Nội muốn mua. Kết quả thắng thua được xác định dựa trên kết quả xổ số miền B được quay từ 18 giờ 15 đến 18 giờ 30 trong ngày. Nếu số lô được mua xuất hiện ở hai chữ số cuối trong 27 giải được mở thưởng thì người mua thắng cược, người bán sẽ phải trả cho người mua số tiền bằng (số điểm đã mua số lô Hà Nội trúng thưởng) × (số lần xuất hiện) × 80.000 đồng.

Số đề: Người mua số đề được chọn một số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99. Kết quả thắng thua được xác định dựa trên kết quả xổ số miền B được quay từ 18 giờ 15 đến 18 giờ 30 trong ngày. Nếu số đề được mua trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt thì người mua thắng cược, người bán sẽ phải trả thưởng cho người mua số tiền gấp 77 lần số tiền đã mua số đề trúng thưởng

Số ba càng: Người mua số ba càng được chọn một số tự nhiên bất kỳ từ 000 đến 999. Kết quả thắng thua được xác định dựa trên kết quả xổ số miền B được quay từ 18 giờ 15 đến 18 giờ 30 trong ngày. Nếu số ba càng được mua trùng với ba chữ số cuối của giải đặc biệt thì người mua thắng cược, người bán sẽ phải trả thưởng cho người mua số tiền gấp 400 lần số tiền đã mua số ba càng trúng thưởng.

Số lô xiên hai, xiên ba, xiên bốn: Người mua chọn một bộ gồm hai, ba, bốn số là các số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99. Kết quả thắng thua được xác định dựa trên kết quả xổ số miền B được quay từ 18 giờ 15 đến 18 giờ 30 trong ngày. Nếu tất cả các số được chọn trong bộ số lô xiên hai, xiên ba, xiên bốn đều xuất hiện ở hai chữ số cuối trong 27 giải được mở thưởng thì người mua thắng cược, người bán sẽ phải trả cho người mua số tiền lần lượt gấp 10, 40, 80 lần số tiền mua các số lô xiên hai, xiên ba, xiên bốn.

Với cách thức như trên, ngày 23/12/2024 Trần Thị H, Bùi Thị N2 và Nguyễn Thành T1 đã đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề được, thua bằng tiền. Cụ thể như sau:

Đối với Bùi Thị N2: buổi chiều ngày 23/12/2024, N2 ngồi tại bàn uống nước của gia đình tại xóm E P, xã G, huyện G bán số lô, số đề cho khách. Khoảng 17 giờ 30, ngày 23/12/2024, Phùng Văn T3, sinh năm 1976, trú tại xóm E P, xã G đến nhà N2 mua số lô, số đề với tổng số tiền là 1.770.000 đồng (các số lô, số đề T3 mua được N2 ghi vào 01 tờ cáp đề, có chữ ký của N2), T3 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa N2 và T3 ngày 23/12/2024 là 1.770.000 đồng. T3 đã trả tiền mua số lô, số đề cho N2. Hồi 17 giờ 48, ngày 23/12/2024, Bùi Thị L, sinh năm 1976, trú tại xóm D T, xã G sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, màu hồng, bên trong lắp sim số thuê bao 0985.292.709, nhắn tin cho N2 qua ứng dụng Zalo bằng tài khoản được N2 lưu là “Lan Q” qua tài khoản Zalo có tên “Trang Trâm” của N2, mua số lô, số đề của N2 với tổng số tiền là 2.175.000 đồng. Lan trúng thưởng 20 điểm lô, tương ứng với số tiền 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa N2 và L ngày 23/12/2024 là 3.775.000 đồng. L đã trả tiền mua số lô, số đề cho N2. Ngoài ra, buổi chiều ngày 23/12/2024, N2 bán số lô, số đề cho 01 người khách qua đường với tổng số tiền là 3.600.000 đồng. N2 đã thu tiền.

Hồi 17 giờ 36 phút, ngày 23/12/2024, N2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, vỏ màu bạc, nhắn tin từ tài khoản zalo có tên "Trang Trâm", đăng ký bằng số điện thoại 0973.956.xxx của N2 đến tài khoản zalo có tên "Con trai" của H để mua các số lô, số đề với tổng số tiền 127.040.000 đồng, gồm: 900.000 đồng tiền T3 mua số lô, số đề của N2 (N2 giữ lại 870.000 đồng để tự thanh toán); toàn bộ số lô, số đề bán cho khách qua đường là 3.600.000 đồng và 122.540.000 đồng N2 tự mua số lô, số đề của H. Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 23/12/2024, N2 trúng thưởng 290 điểm lô, tương ứng số tiền 23.200.000 đồng. H và N2 chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau.

Như vậy, ngày 23/12/2024 tổng số tiền N2 bán số lô, số đề cho T3, L và khách qua đường là 7.545.000 đồng; Nhung giữ lại các số lô, số đề với số tiền là 3.045.000 đồng; chuyển cho H các số lô đề với số tiền là 4.500.000 đồng; N2 tự mua của H các số lô, số đề với số tiền là 122.540.000 đồng. Tổng số tiền N2 đánh bạc với H trong ngày 23/12/2024 là 150.240.000 đồng. Tổng số tiền Bùi Thị N2 sử dụng để đánh bạc với Trần Thị H, Phùng Văn T3, Bùi Thị L và khách qua đường khác trong ngày 23/12/2024 là 154.885.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thành T1: buổi chiều ngày 23/12/2024, T1 bán xổ số tại nhà ở ngã ba G, thuộc thôn F, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Lợi dụng việc bán xổ số nhà nước, T1 bán số lô, đề cho khách qua đường với số tiền là 6.760.200 đồng. Đã thu tiền của khách. Từ 17 giờ 08 phút đến 18 giờ 16 phút ngày 23/12/2024, T1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s Plus, vỏ màu vàng, nhắn tin từ tài khoản zalo có tên "Tiên Tửu", đăng ký bằng số điện thoại 0393.683.xxx của T1 đến tài khoản zalo có tên "Con trai" của H để mua số lô, số đề của H với tổng số tiền 27.723.200 đồng, gồm: toàn bộ 6.760.200 đồng số lô, số đề T1 bán cho khách; T1 tự mua của H các số lô, đề với số tiền là 20.963.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc ngày 23/12/2024, T1 trúng thường 567 điểm lô Hà Nội, tương ứng số tiền trúng thưởng là 45.360.000; trúng thưởng số đề 29 với số tiền 8.085.000 đồng. Tổng số tiền T1 trúng thưởng là 53.445.000 đồng. Tổng số tiền T1 đánh bạc với H trong ngày 23/12/2024 là 81.168.200 đồng. H và T1 chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau.

Như vậy, ngày 23/12/2024, tổng số tiền T1 bán số lô, đề cho khách là 6.760.200 đồng, Trung chuyển toàn bộ cho H các số lô, số đề này và tự mua của H các số lô, số đề với số tiền là 20.963.000 đồng. T1 trúng thưởng số tiền 53.445.000 đồng. Tổng số tiền T1 sử dụng để đánh bạc trong ngày 23/12/2024 là 81.168.200 đồng.

Đối với Trần Thị H: buổi chiều ngày 23/12/2024, H ở nhà tại xóm E P, xã G, huyện G, sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số thuê bao 0343.955.188 của H, đăng nhập tài khoản Zalo có tên “Con trai”, đăng ký bằng số điện thoại 0347.479.xxx để nhận và gửi các tin nhắn liên quan đến việc mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thành T1 và Bùi Thị N2 như đã nêu trên.

Tổng số tiền H sử dụng để đánh bạc với Bùi Thị N2 và Nguyễn Thành T1 trong ngày 23/12/2024 là 231.408.200 đồng (gồm tiền đánh bạc với N2 là 150.240.000 đồng; tiền đánh bạc với T1 là 81.168.200 đồng).

Quá trình điều tra, Trần Thị H, Bùi Thị N2, Nguyễn Thành T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cùng đồng phạm như đã nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 32/CT- VKS - GV, ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố các bị cáo Trần Thị H, Bùi Thị N2 và Nguyễn Thành T1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thị H, Bùi Thị N2 và Nguyễn Thành T1 phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Điều 65 Bộ luật hình sự;

  • - Xử phạt bị cáo Trần Thị H 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án; Giao bị cáo cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo H. Phạt bổ xung 15.000.000đ đến 20.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.
  • - Xử phạt bị cáo Bùi Thị N2 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án; Giao bị cáo cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo N2. Phạt bổ xung 10.000.000đ đến 12.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoảng 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án; Giao bị cáo cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo T1; không áp dụng hình phạt bổ xung với bị cáo T1.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, vỏ màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s Plus, vỏ màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, vỏ màu hồng các bị cáo dùng làm công cụ phượng tiện phạm tội.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi in chữ “Smart 1.0 BAOKE B13”; 01 chiếc bút bi in chữ “Candee”; 11 tờ giấy trắng kích thước (6x9)cm và 20 tờ giấy trắng kích thước(6x12)cm, đây là công cụ bị cáo N2 và bị cáo T1 sử dụng để bán số lô, số đề cho khách.

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ngày 23/12/2024 cụ thể: bị cáo Trần Thị H phải nộp 76.645.000đ (gồm 23.200.000đ tiền trả thưởng cho bị cáo N2 và 53.445.000đ tiền trả thưởng cho bị cáo T1); bị cáo Bùi Thị N2 phải nộp 131.685.000đ (gồm 1.770.000 đồng tiền bán số lô, số đề cho T3; 2.175.000 đồng tiền bán số lô, số đề cho L; 1.600.000 đồng tiền phải trả thưởng cho L; 3.600.000 đồng tiền bán số lô cho khách qua đường và 122.540.000 đồng tiền bị cáo N2 tự mua số lô của bị cáo H chưa thanh toán); bị cáo Nguyễn Thành T1 phải nộp 27.723.200đ (gồm 6.760.200 đồng tiền bán số lô, số đề cho khách và 20.963.000 đồng tiền bị cáo T1 tự mua số lô, số đề của bị cáo H chưa thanh toán).

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo H và bị cáo N2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Nguyễn Thành T1.

Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của các bị cáo Trần Thị H, Bùi Thị N2 và Nguyễn Thành T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người chứng kiến và vật chứng thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: ngày 23/12/2024 bị cáo Bùi Thị N2 có hành vi bán số lô, số đề trái phép cho người đi đường là 7.545.000đ, bị cáo N2 chuyển cho bị cáo H các số lô đề với số tiền là 4.500.000đ để hưởng phần trăm hoa hồng, đồng thời bị cáo N2 bỏ tiền ra mua số lô, số đề với bị cáo H với số tiền là 122.540.000đ. So với kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết mở thưởng trong ngày bị cáo N2 trúng thưởng 290 điểm lô, tương ứng số tiền 23.200.000đ, bị cáo N2 và bị cáo H chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau; bị cáo T1 có hành vi bán số lô, đề cho khách đi đường với tổng số tiền là 6.760.200đ, bị cáo Trung chuyển toàn bộ cho bị cáo H để hưởng phần trăm hoa hồng và tự bỏ tiền ra mua số lô, số đề với bị cáo H với tổng số tiền là 20.963.000đ. So với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng trong ngày bị cáo T1 trúng thưởng 53.445.000đ, bị cáo T1 và bị cáo H chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau. Như vậy với hành đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức mua bán số lô, số đề trái phép với số tiền trên 50.000.000đ của các bị cáo đã phạm vào tội: “Đánh bạc” được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321. Tội đánh bạc.

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

  • b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức mua bán số lô, số đề của các bị cáo như đã nêu ở trên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố về tội: “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 là có căn cứ đúng pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo H có bố Trần Văn N (Trần Hải N1) được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng, gia đình bị cáo N2 có bố Bùi Đình T được tặng thưởng huân chương chiến công Hạng nhất, còn bị cáo T1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bản thân tuổi cao sức khỏe yếu, mắc căn bệnh tim thiếu máu cục bộ, thường xuyên uống thuốc theo đơn của bác sỹ, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ qui định các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Về nhân thân: bị cáo H có nhân thân tốt từ trước cho đến nay chưa có vi phạm pháp luật; bị cáo N2 và bị cáo T1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng: đây là vụ án đồng phạm giản đơn không có tính chất tổ chức, phân công nhiệm vụ, rủ rê, lôi kéo, các bị cáo có mối quan hệ thân thiết với nhau, bị cáo H biết bị cáo N2 và bị cáo T1, thường bán số lô, số đề cho nhiều người, nên bị cáo H gợi ý chuyển số lô, số đề cho bị cáo H để hưởng phần trăm hoa hồng, tiền thắng thua sẽ thanh toán vào sáng ngày hôm sau bằng tiền mặt. Vì vậy các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[3] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị là tương xứng với hàng vi phạm tội của các bị cáo, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo H có nhân thân tốt và các bị cáo H, N2 và T1, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét hành vi đánh bạc của các bị cáo nhằm thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo H và N2. Đối với bị cáo T1, sinh năm 1963, tuổi cao sức khỏe yếu, mắc căn bệnh tim thiếu máu cục bộ, thường xuyên uống thuốc theo đơn của bác sỹ, nên không cần thiết phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo T1 thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Ngoài ra trong vụ án này Phùng Văn T3 và Bùi Thị L mua số lô, số đề trái phép ngày 23/12/2024 với bị cáo N2 với số tiền lần lượt là 1.770.000 đồng và 3.775.000 đồng. Số tiền đánh bạc của T3 và L đều dưới 5.000.000 đồng; bản thân T3 và L đều chưa có tiền án, tiền sự về các tội: “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”. Do đó, chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 11/02/2025, Công an huyện G đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền đối với Phùng Văn T3 và Bùi Thị L về hành vi: “Đánh bạc” là phù hợp với qui định của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, vỏ màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s Plus, vỏ màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, vỏ màu hồng thu của bị cáo H, bị cáo N2, bị cáo T1 và Bùi Thị L. Quá trình điều tra xác định các bị cáo và L, sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội, vì vậy, cần tịch thu xung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 chiếc bút bi in chữ “Smart 1.0 BAOKE B13”; 01 chiếc bút bi in chữ “Candee”; 11 tờ giấy trắng kích thước (6x9)cm và 20 tờ giấy trắng kích thước(6x12)cm. Quá trình điều tra xác định đây là công cụ bị cáo N2 và bị cáo T1 sử dụng để bán số lô, số đề cho khách, vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 tờ cáp đề thu của Phùng Văn T3, đây là tài liệu có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo N2, đã lưu hồ sơ vụ án là phù hợp qui định của pháp luật.

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ngày 23/12/2024 cụ thể: bị cáo Trần Thị H phải nộp 76.645.000đ (gồm 23.200.000đ tiền trả thưởng cho bị cáo N2 và 53.445.000đ tiền trả thưởng cho bị cáo T1); bị cáo Bùi Thị N2 phải nộp 131.685.000đ (gồm 1.770.000 đồng tiền bán số lô, số đề cho T3; 2.175.000 đồng tiền bán số lô, số đề cho L; 1.600.000 đồng tiền phải trả thưởng cho L; 3.600.000 đồng tiền bán số lô cho khách qua đường và 122.540.000 đồng tiền bị cáo N2 tự mua số lô của bị cáo H chưa thanh toán); bị cáo Nguyễn Thành T1 phải nộp 27.723.200đ (gồm 6.760.200 đồng tiền bán số lô, số đề cho khách và 20.963.000 đồng tiền bị cáo T1 tự mua số lô, số đề của bị cáo H chưa thanh toán).

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: bị cáo H và bị cáo N2 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật; miễn án phí cho bị cáo T1.

[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo; người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; đối với bị cáo Trần Thị H và Bùi Thị N2.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Thành T1.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: các bị cáo Trần Thị H, Bùi Thị N2 và Nguyễn Thành T1 phạm tội: “Đánh bạc”.

  • - Xử phạt: bị cáo Trần Thị H 36 (ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/3/2025. Giao bị cáo H cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G giám sát giáo dục bị cáo H. Phạt bổ xung 15.000.000đ sung công quỹ Nhà nước
  • - Xử phạt: bị cáo Bùi Thị N2 36 (ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/3/2025. Giao bị cáo N2 cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo N2 có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G giám sát giáo dục bị cáo N2. Phạt bổ xung 12.000.000đ sung công quỹ Nhà nước
  • - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thành T1 36 (ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/3/2025. Giao bị cáo T1 cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo T1 có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G giám sát giáo dục bị cáo T1

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, vỏ màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s Plus, vỏ màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, vỏ màu hồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi in chữ “Smart 1.0 BAOKE B13”; 01 chiếc bút bi in chữ “Candee”; 11 tờ giấy trắng kích thước (6x9)cm và 20 tờ giấy trắng kích thước(6x12)cm

Chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện G với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn.

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ngày 23/12/2024 cụ thể: bị cáo Trần Thị H phải nộp 76.645.000đ (gồm 23.200.000đ tiền trả thưởng cho bị cáo N2 và 53.445.000đ tiền trả thưởng cho bị cáo T1); bị cáo Bùi Thị N2 phải nộp 131.685.000đ (gồm 1.770.000 đồng tiền bán số lô, số đề cho T3; 2.175.000 đồng tiền bán số lô, số đề cho L; 1.600.000 đồng tiền phải trả thưởng cho L; 3.600.000 đồng tiền bán số lô cho khách qua đường và 122.540.000 đồng tiền bị cáo N2 tự mua số lô của bị cáo H chưa thanh toán); bị cáo Nguyễn Thành T1 phải nộp 27.723.200đ (gồm 6.760.200 đồng tiền bán số lô, số đề cho khách và 20.963.000 đồng tiền bị cáo T1 tự mua số lô, số đề của bị cáo H chưa thanh toán).

3. Về án phí: các bị cáo Trần Thị H và Bùi Thị N2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thành T1

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Người phải thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Ninh Bình;
  • - CQĐT Công an huyện Gia Viễn;
  • - Thi hành án dân sự H. Gia Viễn;
  • - Viện kiểm sát H. Gia Viễn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hà và đồng bọn PT đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger