Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 

Bản án số: 19/2025/HSST

Ngày: 19/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đức Hòa
  2. Bà Lê Thị Thận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Duy Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 124/2024/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Võ Trung K, sinh năm 1997, tại tỉnh Bình Phước

Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.

SỐ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1972 và bà Võ Thị Thu T, sinh năm 1975; Bị cáo có 03 chị, em ruột, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ: Không; Con: Nguyễn Võ Thanh N, sinh năm 2019.

Tiền án: 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2019/HS-ST ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tuyên phạt bị cáo Nguyễn Võ Trung K 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và 02 năm 06 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 04 năm tù, chấp hành xong bản án ngày 17/8/2022, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Ngày 16/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước áp dụng đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số: 52/QĐ-TA ngày 16/8/2023, chưa chấp hành.

Nhân thân: Ngày 15/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, tuyên phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong bản án.

Ngày 08/10/2018, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Bình Phước xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 01/11/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  • + Anh Trần Văn H1, sinh năm 2000 (vắng mặt).
  • HKTT: Thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước
  • + Chị Lê Huỳnh Xuân N1, sinh năm 2003(vắng mặt).
  • HKTT: Thôn P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 18/3/2024, Nguyễn Võ Trung K đi một mình từ nhà đến thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chơi. Tại đây, K gặp T1 mà K quen trước đó qua mạng T2 (không rõ nhân thân, lý lịch) hỏi mua 10.000.000đồng ma túy đá, T1 đồng ý bán, K đưa cho T1 10.000.000đồng, Thảo cầm tiền rồi đưa cho K 06 gói ma túy. Sau khi, mua được ma túy thì K ở lại thành phố V chơi đến ngày 21/3/2024 đi về nhà; trên đường đi về đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, K đón bạn gái tên Lê Huỳnh Xuân N1 lên cùng xe về nhà K tại thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước chơi. Khi đi về đến nhà K thì N1 vào trong phòng ngủ còn K lấy số ma túy đã mua được ra kiểm tra thấy có 04 gói ma túy đá, 01 gói ma túy dạng khay (Ketamine) và 01 gói ma túy dạng kẹo (hay còn gọi là thuốc lắc) bên trong có 08 viên nén, nên K tìm cách liên lạc lại với T1 để đổi ma túy nhưng không liên lạc được. Lúc này, K lấy ma túy đá đựng trong gói nylon miệng khóa miết viền màu đỏ ra một ít sử dụng một mình. Sau khi, sử dụng ma túy xong, số ma túy còn lại trong gói nylon K lấy bỏ vào trong ví da và trong túi quần phía sau bên phải K mặc trên người để cất giấu, số ma túy còn lại K bỏ vào trong hộp giấy catton màu đen cất giấu tại kệ bếp gồm: 01gói nylon có khóa miết màu đỏ bên trong có chứa ma túy đá, 01 gói nylon có khóa miết màu đỏ bên trong có chứa ma túy khay (Ketamine), 02 gói nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá và 01 gói nylon bên trong có chứa 08 viên kẹo (thuốc lắc). Sau đó, K đi đến xã B, huyện B đón Trần Văn H1 để sửa nhà cho K. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi K đang ngồi trước hiên nhà cùng với H1 thì thấy lực lượng Công an đến, K hoảng sợ bỏ chạy xuống kệ bếp cầm hộp catton màu đen mà K cất giấu ma túy, tiếp tục chạy ra phía sau nhà rồi ném sang vườn nhà kế bên nhà K để tẩu tán tang vật rồi bỏ chạy ra phía sau vườn thì bị lực lượng Công an không chế, tiến hành khám xét phát hiện thu giữ tang vật và lập biên bản phạm tội quả tang đối với K, niêm phong tang vật. Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Võ Trung K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nêu trên.

Kết luận định giá số: 332/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận:

  • - Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2-1, M2-2) có trong gói nylon được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M1 là 3,2585 gam, M2-1 là 4,8322 gam, M2-2 là 1,6471 gam.
  • - Chất màu nâu (ký hiệu M2-3) bám dính trên mảnh thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: M2-3 là 0,1685 gam.
  • - Chất màu trắng đục (ký hiệu M2-4) bên trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: M2-4 là 0,1154 gam.
  • - Tinh thể màu trắng (ký hiệu M3-1) bên trong túi nylon khóa miết được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là: M3-1 là 4,0740 gam.
  • - Các viên nén màu xanh (ký hiệu M3-2 và M3-3) được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại MDMA, có khối lượng lần lượt là: M3-2 là 2,2467 gam, M3-3 là 0,5402 gam.
  • - Viên nén màu nâu hình con cá (ký hiệu M3-4) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng là: M3-4 = 0,4006 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 128/CTr –VKS ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Nguyễn Võ Trung K về “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Võ Trung K phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt áp dụng điểm n Khoản 2 Điều 249 BLHS; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Võ Trung K từ 07 đến 08 năm tù; về vật chứng, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 hộp giấy màu đen, 01 cân điện tử; về án phí, buộc bị cáo nộp án phí theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Võ Trung K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố; không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố; nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định; phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ thể hiện:

Ngày 21/3/2024, Nguyễn Võ Trung K cất giấu 9.8532 gam ma túy, loại Methamphetamine; 4,0740 gam ma túy, loại Ketamine; 3,1873 gam ma túy, loại MDMA trong nhà với mục đích để sử dụng.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Võ Trung K đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương; Bị cáo phạm tội có có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác những vẫn cố ý thực hiện; bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị kết án chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội mới, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có con còn nhỏ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • + Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 hộp giấy màu đen, 01 cân điện tử là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • + Các vật chứng khác gồm tiền mặt 6.640.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A50 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy note 105G màu đen. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo, xét việc trả lại các tài sản trên cho bị cáo là phù hợp do các tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội mà K đã thực hiện.

Đối với Lê Huỳnh Xuân N1 và Trần Văn H1 có mặt tại nơi ở của K, nhưng không biết K tàng trữ ma túy, không có tài liệu chứng cứ khác không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra không đề nghị, Viện kiểm sát không đề cập nên không xem xét.

Đối với người người phụ nữ tên T1 bán ma tuý cho K, không xác định được nhân thân, lý lịch; không có tài liệu chứng cứ khác; không có căn cứ xử lý Cơ quan điều tra không đề nghị, Viện kiểm sát không đề cập nên không xem xét.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ pháp luật, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm n Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Võ Trung K phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Võ Trung K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng;

    Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số: 332/2024 (ký hiệu M1, M2, M3) ngày 22/03/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 hộp giấy màu đen, 01 cân điện tử màu đỏ, trắng.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010194 ngày 27/12/20254 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Võ Trung K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hs.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger