|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NÔI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HSST Ngày: 23/01/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tuất.
- Ông Nguyễn Văn Hành.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 262/2024/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
TẠ THÙY DƯƠNG, sinh năm 1999; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Đội 2, xã N, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Tạ Xuân Đ và con bà Lã Thị H; Chồng: Trương Đức H1 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- - Người bị hại: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1981 (đã chết)
- - Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- + Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1940. (Mẹ đẻ)
- + Bà Lưu Thị Kim C, sinh năm 1981. (Vợ)
- + Chị Nguyễn Thùy L, sinh năm 2003. (Con đẻ)
- + Anh Nguyễn Quang Q, sinh năm 2007. (Con đẻ)
- Cùng nơi cư trú: Thôn V, xã V, T, Hà Nội.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà V, bà C, chị L và anh Q: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1969; Nơi cư trú: thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Lã Thị H, sinh năm 1971. Có mặt tại phiên toà.
- + Ông Tạ Xuân Đ, sinh năm 1970 Có mặt tại phiên toà.
Cùng nơi cư trú: Đội 2, xã N, huyện T, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 15' ngày 19/7/2024, Tạ Thùy D điều khiển xe mô tô BKS: 29M1-508.41 (không có giấy phép lái xe theo quy định) đi trên đường liên xã N - Đ, hướng từ xã N đi xã Đ, để về nhà. Lúc này, trời tối, không mưa, mặt đường khô ráo, mật độ giao thông vắng. D điều khiển xe mô tô đi cách mép đường bên phải theo chiều đi khoảng hơn 01 mét. Khi đến khu vực đội A, thôn L, Xã N, huyện T, Hà Nội, do vội mang sữa về cho con, D đã không tập trung, thiếu chú ý quan sát dẫn đến va chạm với anh Nguyễn Quang T (Sinh năm: 1981; HKTT: thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội) đang đi bộ sang đường theo chiều từ trái sang phải theo chiều đi của D. Sau khi va chạm xảy ra, anh T bị ngã xuống mặt đường, xe mô tô do D điều khiển mất lái di chuyển khoảng 20 mét thì đổ xuống đường. Anh T và D đều bị thương tích và được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Tuy nhiên, do thương tích nặng nên ngày 23/7/2024, anh T tử vong.
Nhận được thông tin D điều khiển xe mô tô xảy ra tai nạn, được cấp cứu tại bệnh viện, bà Lã Thị H (Sinh năm: 1971; HKTT: Đội 2, thôn L, xã N, huyện T, Hà Nội; mẹ đẻ của D) và ông Tạ Xuân Đ (Sinh năm: 1970; Đội 2, thôn L, xã N, huyện T, Hà Nội; bố đẻ của D) đến hiện trường thì thấy chiếc xe mô tô BKS: 29M1-508.41 đã được người dân dựng lên. Do lo sợ bị mất xe nên ông Đ đã đưa xe mô tô trên về nhà. Sau khi được Cơ quan Công an thông báo, bà H đã mang chiếc xe mô tô trên đến giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T phục vụ cho hoạt động điều tra.
Tiếp nhận thông tin tai nạn giao thông, đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra là đường liên xã N đi Đ, thuộc địa phận xã N, huyện T, Hà Nội. Hiện trường không còn nguyên vẹn nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu, phương tiện liên quan đã được người dân di chuyển khỏi hiện trường. Đường liên xã N - Đại Áng dải nhựa bằng phẳng, đường hai chiều, lòng đường rộng 6m90.
Điểm mốc là mép tường bên trái số nhà C, đội A, thôn L, xã N, huyện T, Hà Nội theo hướng từ ngoài đường đi vào trong nhà. Mép đường chuẩn là mép đường dải nhựa bên phải theo chiều đường L đi N.
Dấu vết tại hiện trường: (1) Đám máu KT (0m45x0m40) đo từ tâm đám vào mép đường chuẩn là 2m10, đồng thời đo ngang hướng Lạc Thị cách điểm mốc là 3m20. (2) Vết cày dài 0m38, đầu vết hướng Ngọc H2 đo vào mép đường chuẩn là 2m90. Cuối vết hướng Lạc T1, đo vào mép đường chuẩn là 2m70, đồng thời cách tâm đám máu (1) là 1m.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm dấu vết trên phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, trưng cầu giám định về dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết; khám nghiệm tử thi; thu thập hồ sơ bệnh án của anh Nguyễn Quang T và trưng cầu giám định pháp y về nguyên nhân tử vong của anh T.
Tại bản kết luận giám định số 6763 ngày 11/9/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận:
"- Cơ chế hình thành dấu vết va chạm để lại trên xe mô tô biển số 29M1-508.41:
- + Dấu vết trượt, xước ở mặt ngoài bên phải cung chắn bùn bánh trước xe mô tô biển số 29M1-508.41 có chiều từ sàu về trước (ảnh 4 trong bản ảnh giảm định). Không xác định được dấu vết này do vật gì tạo ra.
- + Dấu vết trượt, xước ở má bên phải lốp bánh trước xe mô tô biển số 29M1- 508.41 không thể hiện rõ đặc điểm cơ học, không đủ yếu tố giám định so sánh (ảnh 5 trong bản ảnh giám định). Không xác định được dấu vết này do vật gì tạo ra.
- + Dấu vết trượt, xước ở má bên phải lốp bánh trước xe mô tô biển số 29M1-508.41 có chiều từ mặt lăn vào tâm trục bánh xe (ảnh 6 trong bản ảnh giám định). Không xác định được dấu vết này do vật gì tạo ra.
- + Dấu vết trượt, xước ở mặt ngoài đầu tay phanh, bàn đạp chân chống đứng, bàn để chân sau, tay nâng bên trái xe mô tô biển số 29M1-508.41 (ảnh 8,9,10,11 trong bản ảnh giám định) có đặc điểm giống đặc điểm cửa dấu vết hình thành do va chạm với đường (khi xe mô tô này đổ nghiêng trái và trượt trên mặt đường.
- - Không đủ cơ sở xác định xe mô tô biển số 29M1-508.41 có va chạm với phương tiện khác hay không.
- - Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 29M1-508.41 theo dấu vết phanh khi xảy ra tai nạn."
Tại bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 64 ngày 23/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: " Căn cứ sao y bệnh án mã y tế 0101324022503 của bệnh viện Đ1 nạn nhân Nguyễn Quang T, sinh năm 1981 tử vong do: Chấn thương sọ não nặng đã phẫu thuật lấy máu tụ, giải ép não, hồi sức tích cực, không đáp ứng, hôn mê sâu Glasgow 5 điểm, phù não lan tỏa, rối loạn thân nhiệt."
Tại Cơ quan điều tra, Tạ Thùy D khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông trên là do Tạ Thùy D điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, dẫn đến va chạm với anh Nguyễn Quang T đi bộ sang đường theo chiều từ trái sang phải theo chiều đi của D, làm anh T bị thương tích sau đó tử vong. Anh T cũng có một phần lỗi khi sang đường, ở nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng thiếu chú ý quan sát các xe đang đi đến, chưa bảo đảm an toàn vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ.
Quá trình điều tra xác định: xe mô tô BKS: 29M1-508.41 là tài sản thuộc sở hữu của bà Lã Thị H (mẹ đẻ của D). D tự lấy xe đi dẫn đến gây tai nạn giao thông nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện T không đề cập xử lý và trao trả xe mô tô BKS: 29M1-508.41 cho bà H.
Về dân sự: Bị can Tạ Thùy D đã thăm hỏi, cùng lo hậu sự, hương khói cho nạn nhân Nguyễn Quang T. Gia đình nạn nhân không yêu cầu bồi thường về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị can D.
Tại bản cáo trạng số 253/CT-VKS-TT ngày 27 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Tạ Thùy D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Tạ Thùy D từ 36 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 tháng.
Về dân sự: Gia đình người bị hại đã nhận bồi thường, không yêu cầu gì khác về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên toà: Bị cáo Tạ Thùy D giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Khoảng 23 giờ 15' ngày 19/7/2024, tại đường liên xã N - Đ, thuộc đội A, thôn L, xã N, huyện T, Hà Nội, Tạ Thùy D điều khiển xe mô tô BKS: 29M1-508.41, không có giấy phép lái xe theo quy định, đi trên đường liên xã N - Đ, hướng từ xã N đi xã Đ nhưng thiếu chú ý quan sát vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với anh Nguyễn Quang T đang đi bộ sang đường theo chiều từ trái sang phải theo chiều đi của D. Hậu quả: Anh T bị thương tích được đưa đi cấp cứu, sau đó tử vong. Anh T cũng có một phần lỗi khi sang đường, ở nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng thiếu chú ý quan sát các xe đang đi đến, chưa bảo đảm an toàn vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ.
Đối chiếu quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.
[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội mà còn xâm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, gây ra những mất mát không thể bù đắp cho gia đình người bị hại. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội xâm phạm an toàn giao thông công cộng, góp phần bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, để giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe trong một thời gian nhất định đối với bị cáo.
[6] Về dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, gia đình người bị hại không có yêu cầu gì khác về dân sự. Hội đồng xét xử không xét.
Ông Tạ Xuân Đ và bà Lã Thị H (bố mẹ đẻ bị cáo Tạ Thùy D) không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền đã bồi thường cho gia đình người bị hại. HĐXX không xét.
[7]. Về các vấn đề khác: Đối với 01 xe mô tô BKS: 29M1-508.41 quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của bà Lã Thị H (mẹ đẻ của D). D tự lấy xe đi dẫn đến gây tai nạn giao thông nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện T không đề cập xử lý và trao trả xe mô tô BKS: 29M1-508.41 cho bà H. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[9].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tạ Thùy D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Xử phạt: Bị cáo Tạ Thùy D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/01/2025).
Giao bị cáo Tạ Thùy D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Về án phí: Bị cáo Tạ Thùy D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Hương Giang |
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Lê Hương Giang |
Bản án số 19/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 19/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Tạ Thùy D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".