Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HSST

Ngày: 13/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Minh Hằng

Ông Đỗ Văn Minh.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Ninh- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 184/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 22/TB-TA ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1998, tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Phạm Thị M; chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 23/8/2024 được thay đổi biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu T1; nơi cư trú: Số A đường T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đó, chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1987; trú tại: Số A đường T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng thuê anh Vũ Việt C; trú tại: Số H đường N, phường H, quận Đ, Hải Phòng là chủ cửa hàng nhôm kính sửa chữa cửa phòng ngủ tầng 2 bị hỏng. Khoảng 08 giờ ngày 01/8/2024, anh Vũ Việt C đã phân công 02 công nhân là Nguyễn Văn Q và Sầm Văn V, sinh năm 2000; nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu đến nhà chị Nguyễn Thị Thu T1 để sửa chữa. Khi đến nơi, chỉ có mẹ chị T1 là bà Vũ Thị H, sinh năm: 1957 ở nhà. Bà H dẫn Q và V lên tầng 2 để thay cửa 02 phòng. Q thay cửa phòng ngủ của chị T1 còn V thay cửa phòng đối diện. Bà H đứng giám sát làm việc, tuy nhiên bà H vẫn đi xuống nhà xong rồi lại đi lên. Quá trình thi công đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Q phát hiện trong phòng có tủ quần áo nên nảy sinh ý định trộm cắp (Q không bàn bạc với V về việc trộm cắp). Lợi dụng lúc bà H đi xuống tầng 1, không có ai giám sát, Q kéo ngăn kéo bên trên cùng ở giữa tủ ra thì thấy có 01 hộp nhựa màu đỏ hình vuông, Q mở ra xem thì thấy bên trong có 02 chiếc nhẫn màu vàng có trọng lượng 05 chỉ, dạng trơn không có hoa văn nên đã lấy 02 chiếc nhẫn giấu vào túi quần phía trước bên phải rồi đóng ngăn kéo lại và tiếp tục ra lắp khóa cửa phòng. Sau khi hoàn thành công việc, Q cùng V đi về cửa hàng của anh C. Sau đó, Q mang 02 chiếc nhẫn trộm cắp được đến khu vực trung tâm thành phố Hải Phòng bán ở hai địa điểm khác nhau được số tiền khoảng 35.000.000 đồng (Q không xác định được tên, địa chỉ cửa hàng). Số tiền bán vàng Q đã ăn tiêu cá nhân hết.

Ngày 11/8/2024, chị T1 phát hiện bị mất số vàng trên. Ngày 12/8/2024, chị Nguyễn Thu T1 có đơn trình báo đến Công an phường T.

Ngày 15/8/2024, Nguyễn Văn Q đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận H đầu thú.

Tại Kết luận giám định số 2407/KL-KTHS(KTS) ngày 15/8/2024 của Phòng K - C1 kết luận: Dấu vết đường vân thu tại hiện trường là của Nguyễn Văn Q, sinh năm 1998; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Tại Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: 02 chiếc nhẫn bằng vàng có khối lượng 05 chỉ tại thời điểm tháng 8/2024 có giá trị là: 36.850.000 đồng.

- Vật chứng của vụ án: 02 chiếc nhẫn vàng hiện không thu hồi được.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Văn Q đã bồi thường số tiền 36.850.000 đồng cho chị T1, ngoài ra chị T1 không có ý kiến gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 27/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Văn Q khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại chị Nguyễn Thị Thu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã được công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền 36.850.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q với mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường đầy đủ số tiền 36.850.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

+ Về sự vắng mặt của bị hại:

[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ nhưng bị hại chị Nguyễn Thị Thu T1 vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/8/2024 tại phòng ngủ tầng 02 nhà số A đường T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn Q lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu hợp pháp đã lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thu T1 02 chiếc nhẫn bằng vàng có khối lượng 05 chỉ theo Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận: 02 chiếc nhẫn bằng vàng có khối lượng 05 chỉ có giá trị là 36.850.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về việc bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét, việc bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng bản chất và nội dung vụ án. Nên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[5] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm.

- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét bị cáo Nguyễn Văn Q được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt cải tạo cách ly đối với bị cáo Nguyễn Văn Q mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội được quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.

· Về hình phạt bổ sung:

[10] Hội đồng xét xử xét: Do bị cáo thu nhập không ổn định không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

[11] Gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền 36.850.000 đồng cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về án phí:

[12] Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo Nguyễn Văn Q, chị Nguyễn Thị Thu T1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự của 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại Nguyễn Thị Thu T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS- Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HSST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 19/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q - TCTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger