TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 19/2025/HSST Ngày: 11/3/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Phạm Minh Tuấn
Phạm Minh Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa:
Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử trực tiếp công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử sơ thẩm số 03/2025/TB-TA ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:
- Đào Xuân S, sinh năm 2003, tại Thanh Hóa.
Hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Tổ A, ấp B, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân Q, sinh năm 1975 và bà Lê Thị L, sinh năm 1975; Tiền án-Tiền sự: Không
Ngày 10/8/2024, bị khởi tố. Ngày 21/8/2024, Công an thị xã C tiến hành bắt bị can để tạm giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Xuân Q, sinh năm 1975 (có mặt);
Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Xuân S là người sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng năm 2021. Ngoài việc sử dụng ma túy S còn thực hiện hành vi mua ma túy của người tên L1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), ở khu vực thành phố Đ, tỉnh Bình Phước rồi bán trái phép chất ma túy cho người nghiện khác tại khu vực xã M và xã M, thị xã C từ khoảng tháng 8/2023 đến khoảng tháng 8/2024 nhằm mục đích thu lợi.
Cách thức S bán ma túy cho người nghiện như sau: Khi người nghiện muốn mua ma túy, người nghiện liên lạc qua tài khoản Facebook “Sơn Đào” của S nói số tiền mua và S hẹn người nghiện đến khu vực nhà của S tại tổ A, ấp B, xã M, thị xã C để giao dịch mua bán. Khi gặp, người nghiện đưa tiền cho S trước hoặc chuyển tiền cho S qua số tài khoản 10393671 ngân hàng ACB của S, sau khi nhận được tiền S cầm gói ma túy trực tiếp bán cho người nghiện. S bán ma túy cho người nghiện, mỗi lần với số tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng/lần.
Với cách thức trên, khoảng 21 giờ ngày 10/01/2024, Bùi Anh H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax gọi điện cho Nguyễn Văn H1 rủ mua ma túy sử dụng thì H1 đồng ý. Lúc này, Nguyễn Văn H1 và Đoàn Thanh P đang ngồi chơi tại nhà bạn tên Điểu L2, sinh năm 2005, cư trú: Tổ F, ấp B, xã M nên Nguyễn Văn H1 nhắn tin rủ Bùi Anh H đến nhà L2. Nhắn tin xong, Bùi Anh H điều khiển xe mô tô Sirus biển số 93C1 – 106.80 đến nhà L2. Tại đây, Văn H1 hỏi “Có chỗ mua ma túy chưa, tao có chỗ mua?” thì Anh H1 trả lời “không có”. Lúc này, Văn H1 sử dụng Facebook gọi cho S hỏi mua 300.000₫ ma túy đá thì S đồng ý. Văn H1, Anh H và P điều khiển xe về phòng trọ của P ở ấp B, xã M, thị xã C. Đến phòng trọ của P, Văn H1 tiếp tục gọi điện cho S nói “Bây giờ em qua lấy”, S trả lời “Ừ qua đi”. Gọi điện xong, Văn H1 hỏi Anh H1 “Mày còn tiền không? thì Anh H1 trả lời “Tao còn tiền trong tài khoản”. Trao đổi xong, Văn H1 điều khiển xe Sirus biển số 93C1 – 106.80 chở Anh H1 đến một căn nhà thuộc ấp B, xã M gặp S. S bán cho Anh H1 01 gói ma túy đá, A H1 cầm ma túy và nói S đọc số tài khoản để chuyển tiền mua ma túy. Khi S cho số tài khoản M thì Anh H1 sử dụng tài khoản 050139035305 thuộc ngân hàng S1 của A H1 chuyển cho S số tiền 300.000đ. Mua được ma túy, Văn H1 và A H1 điều khiển xe về rủ P ra lô cao su chơi. Tuy nhiên, do không mượn được dụng cụ sử dụng ma túy, Văn H1 rủ Anh H1, P qua phòng trọ của Bùi Thanh K và Nguyễn Thị Ngọc T để cùng sử dụng ma túy thì cả hai đồng ý. Văn H1 điều khiển xe chở Anh H1 và P đến phòng số 4, nhà T thuộc ấp B, xã M (phòng trọ của vợ chồng K) thì gặp K và T đang ở phòng. Vào phòng trọ, Văn H1 hỏi K “Có nồi không” (tức H1 hỏi K có dụng cụ sử dụng ma túy không) thì K trả lời “Có”. Lúc này, K lấy một vỏ chai nước 247 có đục 02 lỗ tròn trên nắp có gắn nỏ thủy tinh và ống hút, 01 hộp quẹt khò (tim) ra. Anh H1 lấy gói ma túy đá đưa cho T, T cầm gói ma túy và dùng
kéo cắt hở rồi đổ ma túy vào nỏ thủy tinh của bộ D. T đưa bộ dụng cụ có sẵn ma túy để Văn H1 dùng hộp quẹt nấu ma túy tan chảy. Văn Hoàng, Anh H, K, P, T xoay vòng cùng sử dụng. Cả nhóm xoay vòng sử dụng mỗi người được khoảng 3-4 hơi thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra xác định ngoài việc Đào Xuân S bán ma túy cho Nguyễn Văn H1 và Bùi Anh H thì S còn bán ma túy cho Bùi Thanh K, sinh năm: 2000, nơi thường trú: Tổ B, ấp F, xã M, thị xã C nhiều lần từ tháng 8/2023 đến tháng 01/2024; bán ma túy cho Lê Văn Cao N, sinh năm 1997, nơi thường trú: Tổ F, ấp B, xã Q, thị xã C nhiều lần từ khoảng tháng 8/2023 đến tháng 8/2024 và nhiều đối tượng khác.
- Đối với Lê Văn Cao N: S đã bán ma túy cho nguyên vào các ngày 19/12/2023, với số tiền 300.000 đồng; 25/01/2024, với giá 500.000 đồng; 19/12/2024, với giá 300.000 đồng; ngày 19/4/2024, với giá 300.000 đồng và một số lần N đưa tiền mặt cho S với giá tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.
- Đối với Bùi Thanh K: Từ tháng 11/2023 đến tháng 01/2024. S bán ma túy cho K nhiều lần, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Khiêm chuyển khoản mua ma túy cho S qua tài khoản ngân hàng.
- Đối với Điểu Đ: S bán ma túy cho Đ1 Đá từ khoảng thời gian từ giữa năm 2023, với khoảng 2 – 3 lần, mỗi lần từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.
Tại kết luận giám định số 81/KL-KTHS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B xác định: Chất bám dính (ký hiệu là M) bên trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, mẫu ở dạng vết, không xác định được khối lượng.
Quá trình điều tra thu giữ các vật chứng sau: 01 (một) thẻ ATM thuộc ngân hàng A, trên mặt thẻ có chữ “DAO XUAN SON”, “SO TK 10393671” của Đào Xuân S. Vật chứng trên chuyển sang chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành để quản lý theo quy định.
Cáo trạng số: 02/CT-VKSCT ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành: Truy tố Đào Xuân S về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Đào Xuân S từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:
- Trả cho bị cáo: 01 (một) thẻ ATM thuộc ngân hàng A, trên mặt thẻ có chữ “DAO XUAN SON”, “SO TK 10393671” do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về đối tượng tên L1 ở khu vực thành phố Đ, tỉnh Bình Phước bán ma túy cho S, S khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh xử lý theo quy định.
- Đối với Bùi Thanh K, Bùi Anh H, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Thị Ngọc T có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử tại Bản án số 90/2024/HSST ngày 28/8/2024 nên không đề cập xử lý.
- Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirus, màu đen, biển số 36B8 – 143.07, số máy E32VE314393, số khung RLCUE3710My169084 là xe của ông Đào Xuân Q đứng tên chủ sở hữu. Ông Q cho S mượn xe để đi làm, ông Q không biết S lấy xe đi mua ma túy nên không có cơ sở xử lý.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Ngày 10 tháng 01 năm
2024, tại xã M, thị xã C, Đào Xuân S mua 01 gói ma túy của đối tượng tên L1, rồi mang về bán cho Bùi Văn H2 và Nguyễn Văn H1. Ngoài ra, trong giai đoạn từ tháng 8/2023 đến tháng 8/2024, S đã bán ma túy nhiều lần cho người sử dụng ma túy khác. Hành vi của Đào Xuân S thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, sử dụng ma túy là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Cần xử phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Đào Xuân S đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Đối với vật chứng của vụ án:
- Trả cho bị cáo: 01 (một) thẻ ATM thuộc ngân hàng A, trên mặt thẻ có chữ “DAO XUAN SON”, “SO TK 10393671” do không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án.
[6] Những vấn đề liên quan:
- Về đối tượng tên L1 ở khu vực thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã bán ma túy cho S, S khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh xử lý theo quy định.
- Đối với Bùi Thanh K, Bùi Anh H, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Thị Ngọc T có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử tại Bản án số 90/2024/HSST ngày 28/8/2024 nên không đề cập xử lý.
- Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirus, màu đen, biển số 36B8 – 143.07, số máy E32VE314393, số khung RLCUE3710My169084 là xe của ông Đào Xuân Q đứng tên chủ sở hữu. Ông Q cho S mượn xe để đi làm, ông Q không biết S lấy xe đi mua ma túy, nên không có cơ sở xử lý.
[7] Kiểm sát viên đề nghị hình phạt tù cho bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp, đúng quy định nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đào Xuân S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đào Xuân S 07 (bảy) năm tù, tính từ ngày 21/8/2024.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0005345 ngày 12/02/2025 giữa Công an thị xã C và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành.
- Trả cho bị cáo: 01 (một) thẻ ATM thuộc ngân hàng A, trên mặt thẻ có chữ “DAO XUAN SON”, “SO TK 10393671”.
Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đức |
Bản án số 19/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 19/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Xuân Sơn bị tuyên phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
