|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 –TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày: 30-9-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hoàng Ráng.
- Ông Nguyễn Văn Thuần.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Dung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 –Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Trần Phúc H, sinh ngày 19/01/1999; tên gọi khác: không có; nơi sinh: tỉnh Long An; nơi thường trú: ấp A, xã V, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Việt H1, sinh năm: 1968 và bà Huỳnh Thị T; sinh năm: 1969; đang sống chung như vợ chồng với Đoàn Thị Ngọc T1, sinh năm: 1998 từ tháng 12/2024; không có con; tiền sự/ tiền án: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/5/2025 đến nay tại xã V, tỉnh Tây Ninh. “có mặt”.
- Nguyễn Văn D, sinh ngày 01/01/1970; tên gọi khác: không có; nơi sinh: tỉnh Long An; nơi thường trú: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Âu Thị Đ, sinh năm 1941; có vợ tên Nguyễn Thị N1, sinh năm 1973; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền sự; tiền án: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/5/2025 đến nay tại xã T, tỉnh Tây Ninh. “có mặt”.
- Nguyễn Minh L, sinh ngày 12/8/2002; tên gọi khác: không có; nơi sinh: tỉnh Long An; nơi thường trú: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1973; chưa có vợ, con; tiền sự; tiền án: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/5/2025 đến nay tại xã T, tỉnh Tây Ninh. “có mặt”.
- Đoàn Công H2, sinh ngày 02/7/1993; tên gọi khác: không có; nơi sinh: tỉnh Long An; nơi thường trú: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Công H3, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Ngọc L1, sinh năm 1974; có vợ tên Trần Thị Nhật H4, sinh năm 1993; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012; nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền sự; tiền án: không; nhân thân: ngày 28/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đã thi hành xong; bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong một vụ án khác. “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phúc H, sinh 1999 ở V, Tây Ninh thường xuyên vận chuyển thuê hàng hóa đến thành phố Hồ Chí Minh, nên biết người dân ở địa bàn thường sử dụng loại rượu Chamisul có xuất xứ Hàn Quốc. Trần Phúc H nảy sinh ý định tìm mua loại rượu này bên Campuchia với giá mua thấp, nhập lậu vào Việt Nam để bán lại kiếm lời. Biết Nguyễn Văn D là người ở khu vực giáp biên giới Việt Nam – Campuchia và D thường qua lại mua bán hàng hóa ở Campuchia, nên H dùng điện thoại liên lạc với D tìm mua loại rượu nêu trên về bán lại cho H được D đồng ý và hẹn sẽ đi hỏi giá cả rồi báo lại với H. Chiều ngày 29/12/2024, D sang Campuchia, gặp một người phụ nữ tên M hỏi giá rượu thì được người này báo giá là 670.000 đồng trên 01 thùng (20 chai rượu). D báo giá lại cho H là 810.000 đồng trên 01 thùng để hưởng chênh lệch. H đồng ý và đặt mua 120 thùng, dặn D khi nào ở phía Campucia có rượu thì gọi điện thoại cho H biết để nhận hàng.
Sáng ngày 01/01/2025, H gặp Đoàn Công H2 (anh vợ H), nói cho H2 biết việc mua rượu từ Campuchia nhập lậu về để bán lại, nhờ H2 giúp nhận và cất giấu rượu khi D chở từ Campuchia ra nhà của H2, đồng thời đưa cho H2 01 sấp tem kiểm định và nhãn dán loại giả do H đặt mua trên mạng xã hội Facebook, kêu Hoàng dán tem, nhãn lên các chai rượu nhập lậu để dễ bán cho khách hàng và đối phó lực lượng chức năng khi bị kiểm tra. H2 đồng ý làm theo lời H. Đến trưa ngày 01/01/2025, D gọi điện thoại nói với H đã có rượu, H kêu D chở rượu giao tại nhà của H2, ở: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh. D sang Campuchia gặp người tên M hẹn chia thành 02 đợt nhận hàng, mỗi đợt nhận 60 thùng rượu vào lúc 03 giờ khuya ngày 02 và ngày 04/01/2025. Do không có phương tiện nên D mượn xe mô tô ba bánh (xe ba gác) của bà M làm phương tiện chở rượu về Việt Nam được bà M đồng ý. Khoảng 03 giờ 00 ngày 02/01/2025, D rủ Nguyễn Minh L (con ruột D) cùng đi với D để nhận rượu từ Campuchia về Việt Nam, được L đồng ý. D điều khiển xe mô tô biển số 62Z6-4252 của D chở L sang Campuchia vào nhà bà M mượn xe ba gác và được một người làm công cho bà M giao nhận 60 thùng rượu. D điều khiển xe mô tô đi phía trước cảnh giới lực lượng chức năng, còn L điều khiển xe ba gác chở rượu đi sau vượt qua đường biên giới vào Việt Nam chở đến giao cho H tại nhà H2. Sáng cùng ngày, H2 lấy sấp tem và nhãn giả do H đưa trước đó, dán lên các chai rượu rồi quản lý số rượu vừa nhận được theo lời H dặn.
Tương tự phương thức trên, khoảng 03 giờ 00 ngày 04/01/2025, D cùng L tiếp tục sang Campuchia nhận 60 thùng rượu còn lại và chở về giao cho H tại nhà H2. Nhận rượu xong, H2 tiếp tục lấy tem, nhãn giả ra dán lên các chai rượu như lần trước. Sau khi giao đủ số lượng rượu, D gọi điện thông báo cho H biết. H sử dụng điện thoại có số sim 0396.183.xxx gọi vào số 0901622477 cho H2 kêu sáng ngày 05/01/2025 chở rượu ra tập kết ở nhà kho của H2 tại khu dân cư ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh để H lên xe ô tô tải vận chuyển đi, H2 đồng ý. Đến khoảng 06 giờ 00 ngày 05/01/2025, H2 điều khiển xe ba gác do H2 thuê của anh Trần Thanh K, sinh năm 1985, địa chỉ: ấp L, xã K, tỉnh Tây Ninh (không nói cho K biết việc chở hàng nhập lậu) chở 120 thùng rượu ra địa điểm đã hẹn với H, cả hai xếp rượu lên xe ô tô tải biển số 51C-584.13 của H. H đưa cho H2 200.000 đồng để về trả tiền thuê xe ba gác rồi điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-584.13 chở toàn bộ số rượu mua được về thành phố Hồ Chí Minh. Khi đang lưu thông trên tuyến Quốc lộ F, thuộc ấp D, xã T, huyện M, tỉnh Long An (nay là ấp D, xã M, tỉnh Tây Ninh) thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện hành vi buôn lậu cùng tang vật vào lúc 07 giờ 00 phút cùng ngày.
Tại Công văn trả lời số 022025/CV ngày 24/02/2025 của Công ty TNHH H5 đã trả lời kết quả giám định qua ảnh chụp bao bì, nhãn mác, tem của 120 thùng rượu như sau: Công ty TNHH H5 là đơn vị duy nhất nhập khẩu rượu Jinro Soju tại Việt Nam; Sản phẩm (120 thùng rượu) theo tài liệu cung cấp (ảnh chụp bao bì nhãn mác, tem) không phải là sản phẩm nhập khẩu chính thức.
Tại Thông báo kết luận giám định số 00024/N3.25/TD ngày 26/4/2025 của Trung tâm K1 đã thông báo kết quả giám định quy chuẩn quốc gia đối với các sản phẩm đồ uống có cồn và bản tự công bố sản phẩm rượu nhập khẩu nhãn hiệu Chamisul của công ty TNHH H5 đối với 120 thùng rượu như sau: Mẫu gửi giám định có chỉ tiêu phù hợp quy chuẩn quốc gia đối với các sản phẩm đồ uống có cồn QCVN 6-3:2010/BYT và bản tự công bố sản phẩm rượu nhập khẩu nhãn hiệu Chamisul của công ty TNHH H5.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M đã kết luận giá trị của 120 thùng rượu Trần Phúc H cùng các đồng phạm nhập lậu bị kiểm tra thu giữ như sau: 120 thùng rượu mỗi thùng 20 chai trên chai có ghi nhãn hiệu Jinro Chamisul loại 360 ml, hàm lượng Ethanol 16,5 %, xuất xứ Hàn Quốc có giá 150.300.000 đồng tại thời điểm định giá ngày 14/01/2025.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Phúc H, Đoàn Công H2, Nguyễn Văn D và Nguyễn Minh L thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp biên bản vụ việc, biên bản xác định địa điểm, vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm: 120 thùng rượu (20 chai/01 thùng), ghi nhãn hiệu Chamisul; 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-58413. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô biển số 62Z6-4252 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, loại phím bấm, màu đen, gắn sim số: 0983973146 của Nguyễn Văn D; 01 Iphone 12 Pro max, màu vàng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim số: 0901622477 của Đoàn Công H2; 01 Iphone 12 Pro max, màu trắng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim số: 0396183435 của Trần Phúc H.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSKV8 ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Tây Ninh truy tố các bị cáo: Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2, về tội “Buôn lậu” quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Đối với người phụ nữ tên M và người thanh niên làm thuê cho M có bán và giao 120 thùng rượu cho bị cáo D và Lý nhập lậu vào Việt Nam do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, không có căn cứ xác định việc những người này phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam nên không xem xét hành vi trong vụ án.
Đối với Trần Thanh K là người cho bị cáo H2 thuê xe mô tô 03 bánh (xe ba gác) để chở 120 thùng rượu được nhập lậu từ nhà H2 ra địa điểm tập kết để Hậu vận C đi thành phố Hồ Chí Minh, nhưng K không biết việc H2 sử dụng phương tiện của K để vận chuyển hàng hóa vi phạm pháp luật, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với K trong vụ án này là có cơ sở.
Việc bị cáo H và H2 tập kết rượu nhập lậu tại nhà của H2 nhưng không nói cho những người sống cùng nhà H2 gồm Trần Thị Nhật H4 (vợ H2); Đoàn Công H3 và Trần Thị Ngọc L1 (cha mẹ ruột của H2) biết, đồng thời tại thời điểm H3 và H2 đưa rượu về nhà cất giấu không có mặt H4, H3 và L1 ở nhà nên không có cơ sở để xem xét những người này liên quan đến vụ án.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo gây ra; đồng thời căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo: Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 phạm tội “Buôn lậu”.
Xử phạt bị cáo:
- Trần Phúc H từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn D từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.
- Nguyễn Minh L từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
- Đoàn Công H2 từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý tang vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Cho tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 120 thùng rượu (20 chai/01 thùng), ghi nhãn hiệu Chamisul; 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-58413; 01 xe mô tô biển số 62Z6-4252; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, loại phím bấm, màu đen của Nguyễn Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng của Đoàn Công H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu trắng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng của Trần Phúc H.
Cho tịch thu tiêu hủy: 03 thẻ sim số: 0983973146; 0901622477; 0396183435.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; thừa nhận lời khai tại các bản tự khai, biên bản hỏi cung, biên bản làm việc đều do các bị cáo tự khai, viết ra; trong quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình; các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát; chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 trước phiên tòa phù hợp với biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; vật chứng thu giữ; bản kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của các bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó cho thấy, do biết rượu C1 xuất xứ Hàn Quốc có giá bán cao trên thị trường trong nước nên Trần Phúc H nảy sinh ý định tìm mua loại rượu này với giá thành thấp ở thị trường nước ngoài rồi nhập lậu vào Việt Nam để bán lại kiếm lời. H đã liên lạc kêu Nguyễn Văn D sang Campuchia tìm mua loại rượu trên về giao cho H 120 thùng rượu Chamisul (loại 20 chai/thùng), được định giá với tổng giá trị 150.300.000 đồng. D mua và chia làm 02 đợt nhận rượu tại địa phận Campuchia vào các ngày 02/01/2025 và ngày 04/01/2025 rồi cùng với Nguyễn Minh L vận chuyển về Việt Nam giao cho Đoàn Công H2 giúp sức cho H nhận rượu, tập kết tại nhà H2. Sau khi dán tem kiểm định và nhãn giả lên các chai rượu theo yêu cầu của H, ngày 05/01/2025 H2 tiếp tục giúp H chở 120 thùng rượu từ nhà ra địa điểm tập kết khác, cùng H xếp rượu lên xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-58413 để Hậu vận chuyển đi về Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ. Khi đang vận chuyển trên tuyến Quốc lộ F thuộc ấp D, xã T, huyện M, tỉnh Long An (nay là ấp D, xã M, tỉnh Tây Ninh), Hậu bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện hành vi buôn lậu cùng tang vật vào lúc 07 giờ 00 phút cùng ngày.
[3] Trong vụ án, các bị cáo Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 đều trực tiếp thực hiện, nhưng không có sự cấu kết, phân công vai trò nhiệm vụ cụ thể cho nhau, nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. H là người khởi sướng, liên lạc kêu D tìm mua hàng hóa, D trực tiếp mua hàng hóa từ Campuchia được L giúp sức nhận hàng vận chuyển về Việt Nam. H2 giúp sức H nhận hàng từ D và tập kết hàng, dán tem và nhãn giả lên chai rượu, xếp hàng lên xe để H mang đi bán lại.
[4] Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 đã phạm tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Tây Ninh truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[5] Các bị cáo Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc vận chuyển hàng hóa nhập lậu là vi phạm pháp luật; đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và tình hình an ninh chính trị tại khu vực biên giới, nhưng vì động cơ vụ lợi các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo H, D, L có nhân thân tốt; bị cáo H2 có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, các bị cáo: Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội; tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Cho nên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp về áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo là có cơ sở.
[9] Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[10] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 120 thùng rượu (20 chai/01 thùng), ghi nhãn hiệu Chamisul; 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-58413; 01 xe mô tô biển số 62Z6-4252; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, loại phím bấm, màu đen của Nguyễn Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng của Đoàn Công H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu trắng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng của Trần Phúc H là vật, tài sản có liên quan đến tội phạm là phù hợp.
Cần tịch thu tiêu hủy: 03 thẻ sim số: 0983973146; 0901622477; 0396183435 là vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng là phù hợp.
[11] Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Đối với người phụ nữ tên M và người thanh niên làm thuê cho M có bán và giao 120 thùng rượu cho bị cáo D và Lý nhập lậu vào Việt Nam do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, không có căn cứ xác định việc những người này phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam nên không xem xét hành vi trong vụ án là phù hợp.
[13] Đối với Trần Thanh K là người cho bị cáo H2 thuê xe mô tô 03 bánh (xe ba gác) để chở 120 thùng rượu được nhập lậu từ nhà H2 ra địa điểm tập kết để Hậu vận C đi Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng K không biết việc H2 sử dụng phương tiện của K để vận chuyển hàng hóa vi phạm pháp luật, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với K trong vụ án này là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 188 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo: Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 phạm tội “Buôn lậu”.
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Phúc H số tiền 100.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 100.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L số tiền 50.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Công H2 50.000.000 đồng.
- Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ khoản 5 Điều 188 của Bộ luật Hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, đồ vật:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 120 thùng rượu (20 chai/01 thùng), ghi nhãn hiệu Chamisul; 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-58413; 01 xe mô tô biển số 62Z6-4252; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, loại phím bấm, màu đen của Nguyễn Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng của Đoàn Công H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu trắng, còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng của Trần Phúc H.
Tịch thu tiêu hủy: 03 thẻ sim số: 0983973146; 0901622477; 0396183435.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh – Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Tây Ninh)
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H2 mỗi người phải nộp 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Phương |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – TÂY NINH về hình sự sơ thẩm về tội buôn lậu
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Buôn lậu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Phúc H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Minh L và Đoàn Công H1 phạm tội “Buôn lậu”.