|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG - |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 30-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Sơn và bà Bùi Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 24/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 23/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 38/2025/QĐST-HS ngày 06/6/2025, số 40/2025/QĐST-HS ngày 24/6/2025 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Bình K, sinh ngày 22/9/1992; số căn cước công dân [...]; nơi sinh: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B và bà Phạm Thị N; vợ là Nguyễn Phương L và có hai con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 14/3/2025 đến ngày 16/3/2025 được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 08/4/1993; số căn cước công dân [...]; nơi sinh: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị H; vợ là Tiêu Thị H1 và có hai con; bị cáo là đảng viên Đ đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 14/3/2025 đến ngày 16/3/2025 được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
3. Nguyễn Duy K1, sinh ngày 28/02/1992; số căn cước công dân [...]; nơi sinh: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang V và bà Phạm Thị A; vợ là Nguyễn Thị Yến N1 và có một con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2025 đến ngày 16/3/2025 được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
4. Nguyễn Hải D, sinh ngày 21/02/2003; số căn cước công dân [...]; nơi sinh: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L1; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 14/3/2025 đến ngày 16/3/2025 được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
5. Nguyễn Xuân L2, sinh ngày 30/11/2000; số căn cước công dân [...]; nơi sinh: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị M; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 14/3/2025 đến ngày 16/3/2025 được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
6. Phạm Quốc T2, sinh ngày 05/12/2003; số căn cước công dân [...]; nơi sinh: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị H2; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2025 đến ngày 16/3/2025 được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Vũ Đình P, vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Bình K, Nguyễn Văn Q, Phạm Quốc T2, Nguyễn Xuân L2, Nguyễn Hải D; Nguyễn Duy K1 là bạn bè chơi với nhau. Trưa ngày 13/3/2025 K, K1, Quyền đến nơi ở của gia đình anh Vũ Đình P ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, anh P đi ngủ; còn K, Q, K1 ngồi uống nước trên gường tại phòng (gian) bếp của gia đình anh P, đến 14 giờ 00 phút cùng ngày có T2, D, L2 đi bộ đến nhà anh P chơi (sáng ngày 13/3/2025 K1 gặp và bảo T2 đến trưa cùng ngày vào gia đình anh P ăn cơm). Trong lúc ngồi chơi, K thấy bộ bài tú lơ khơ để ở cuối gường nên rủ mọi người đánh bạc được thua bằng tiền, hình thức đánh ba cây, tất cả mọi người đồng ý. Quyền cầm bộ bài tú lơ khơ đưa cho K1 chia bài (ván) đầu tiên. Tất cả quy ước với nhau sử dụng bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài từ A đến 9, chia cho mỗi người ba quân bài, sau khi chia xong đặt cược từ 10.000đ đến 50.000đ với người cầm “chương”. Người đặt cược so bài với người cầm “chương”, điểm cao hơn là thắng tính từ 1 đến 10, bằng điểm thì so chất bài theo thứ tự từ “rô, cơ, tép, bích”. Người nào được 10 điểm thì người thua phải trả gấp đôi số tiền đã cược và được cầm “chương” ván tiếp theo. Khi đánh bạc, K sử dụng 1.030.000đ; K1 sử dụng 1.500.000đ; Quyền sử dụng 620.000đ; D sử dụng 1.000.000đ; T2 sử dụng 300.000đ; L2 sử dụng 950.000đ để đánh bạc trái phép. Các bị cáo đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền được khoảng 30 phút, thì T2 thua bạc, hết tiền nên ngồi chơi, xem các bị cáo khác đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/3/2025 khi K, K1, Quyền, D, T2, L2 thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang; thu giữ tại vị trí các bị cáo bị cáo đánh bạc trái phép số tiền 5.400.000đ sử dụng vào việc đánh bạc trái phép, một bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSHD-TH ngày 23/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo K, Quyền, K1, D, L2, T2 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và xác định về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Các bị cáo xác định đây là lần đầu tiên vi phạm pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để có điều kiện sửa chữa lỗi lầm.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo K, Q, K1, D, L2, T2 phạm tội Đánh bạc. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo K; áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Q, K1, T2, L2, D. Đề nghị xử phạt bị cáo K từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 đến 18 tháng; giao bị cáo K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Đề nghị xử phạt các bị cáo Q, K1 mỗi một người từ 30.000.000đ đến 40.000.000đ; xử phạt các bị cáo D, L2 mỗi một người từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ; xử phạt T2 từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy một bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 5.400.000 đồng; Về án phí, các bị cáo mỗi một người phải chịu (nộp) 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về việc vắng mặt người làm chứng: Quá trình giải quyết vụ án người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại khách quan cho việc xét xử vụ án, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng trong vụ án vẫn được đảm bảo. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử, xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng như đã nêu ở trên.
[2]. Về chứng cứ xác định các bị cáo K, Quyền, T2, L2, D; K1 có tội và điều luật áp dụng: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai nhận của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 00 phút đến khoảng 15 giờ 15 phút ngày 13/3/2025 tại gian phòng bếp thuộc nơi ở của gia đình anh Vũ Đình P tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Bình K, Nguyễn Văn Q, Phạm Quốc T2, Nguyễn Xuân L2, Nguyễn Hải D, Nguyễn Duy K1 đã có hành vi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền dưới hình thức đánh ba cây với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là 5.400.000đ thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, trị an xã hội, nếp sống văn minh, trong khi đó các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nhưng lại không chịu lao động chân chính, nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tổng số tiền thu giữ tại nơi (vị trí) đánh bạc là 5.400.000đ được sử dụng vào việc đánh bạc trái phép, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về số tiền nói trên. Như vậy hành vi của các bị cáo K, Q, T2, L2, D, K1 đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, nên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về xác định vụ án có đồng phạm: Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp giản đơn vì không có sự câu kết, tổ chức chặt chẽ giữa các bị cáo; tuy nhiên cần đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án để xem xét mức hình phạt cho phù hợp. Trong vụ án này, bị cáo K là người đề xuất, rủ rê các bị cáo khác đánh bạc trái phép, sử dụng 1.030.000đ vào việc phạm tội cho đến khi bị bắt quả tang, nên giữ vị trí vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo Q là người đưa bộ bài tú lơ khơ cho K1 chia bài và sử dụng 620.000đ vào việc phạm tội; bị cáo K1 sau khi được Q đưa bộ bài đã trực tiếp chia bài, cầm chương đầu tiên, sử dụng 1.500.000đ đánh bạc trái phép, do vậy Quyền và K1 giữ vị trí, vai trò tương đương nhau nhưng sau bị cáo K. Đối với các bị cáo D sử dụng 1.000.000đ, L2 sử dụng 950.000đ để đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt, nên giữ vị trí, vai trò sau các bị cáo K, Quyền, K1; bị cáo T2 là người sử dụng số tiền ít nhất 300.000đ để đánh bạc, thời gian đánh bạc ít hơn so với các bị cáo còn lại, vì vậy các bị cáo D, L2, T2 giữ vai trò thứ yếu trong vụ án.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xác định: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; các bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét vị trí, vai trò, nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo K có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên cho hưởng án treo vẫn có tác dụng giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội. Các bị cáo Q, K1, D, L2, T2 hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hơn so với bị cáo K nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng vẫn có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh, điều kiện của bị cáo K là lao động tự do, thu nhập không đáng kể, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo bị xử phạt tiền là hình phạt chính thì không phải chịu hình phạt bổ sung.
[6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 5.400.000đ là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với một bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài, gồm từ A đến 9, xét đây là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy như theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm như theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8]. Đối với anh Vũ Đình P không tham gia đánh bạc, không biết việc các bị cáo sử dụng nơi ở của gia đình mình vào việc đánh bạc trái phép, nên không phải đặt ra để giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bình K.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duy K1.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hải D.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân L2.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quốc T2.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bình K, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Duy K1; Nguyễn Hải D; Nguyễn Xuân L2; Phạm Quốc T2 phạm tội Đánh bạc.
- Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Bình K 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo K có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 30.000.000đ (ba mươi triệu), nộp vào ngân sách nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K1 30.000.000đ (ba mươi triệu), nộp vào ngân sách nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải D 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu) nộp ngân sách nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L2 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu) nộp ngân sách nhà nước.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T2 20.000.000đ (hai mươi triệu) nộp ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 5.400.000đ nằm trong bì niêm phong số 503/VPCQCSĐT-Đ4; mã TS 036000019423A, tên tài sản tiền Việt Nam đồng 5.400.000đ, nguồn tài sản tiền vật chứng thuộc vụ án đánh bạc xảy ra tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 13/3/2025. Tịch thu, tiêu hủy một bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài, gồm từ A đến 9.
- Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương lập ngày 08/5/2025.
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Bình K, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Duy K1; Nguyễn Hải D; Nguyễn Xuân L2; Phạm Quốc T2 mỗi bị cáo phải chịu (nộp) 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bình Khiêm và đồng phạm
