Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 24 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Mạnh Sơn

Ông Dương Minh Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST- HS ngày 4 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Mai K; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 27 tháng 6 năm 1976 tại xã V, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu B, xã V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn T (tên gọi khác: Dương Mai T1) và bà Nguyễn Thị Q; có vợ: Nguyễn Thị M; con: Có 02 con; con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2002;

Tiền án: 01. Tại Bản án số 19/2024/HSST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, Dương Mai K bị xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 06 ngày tạm giữ quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 23 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung 40.000.000 đồng. Dương Mai K chấp hành xong hình phạt bổ sung, khoản khấu trừ thu nhập và án phí tháng 7/2024. Khương chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 19/6/2024, quá trình chấp hành án được giảm thời hạn chấp hành án 06 tháng; tính đến thời điểm bị bắt, tạm giữ (ngày 11/7/2025) Khương chưa chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Không.

1

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 16 giờ 15 phút ngày 11/7/2025 đến 15 giờ 25 phút ngày 15/7/2025, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, tỉnh Phú Thọ kể từ ngày 24 tháng 11 năm 2025 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án, có mặt.

2. Họ và tên: Trần Gia C; tên gọi khác: Không; sinh ngày 24 tháng 6 năm 1987 tại xã T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đăng K1 (đã chết); Mẹ đẻ: Lê Thị C1 (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị T2; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 37/2020/HSST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, Trần Gia C bị xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 03 ngày bị tạm giữ quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ) về tội “Đánh bạc”, khấu trừ thu nhập 119.000 đồng/ tháng trong thời gian chấp hành án và buộc phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trần Gia C chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ ngày 12/01/2022, chấp hành xong khoản khấu trừ thu nhập và án phí tháng 11/2020.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 16 giờ 15 phút ngày 11/7/2025 đến 15 giờ 20 phút ngày 15/7/2025, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, có mặt.

3. Họ và tên: Trần Văn T3; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 9 năm 1986 tại xã T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đức C2 (đã chết); Mẹ đẻ: Dương Thị M1; có vợ: Lưu Phương T4; con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2023;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định số 55/QĐ-XPHC ngày 13/7/2020 của Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn T3 bị xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. T3 đã chấp hành xong ngày 16/7/2020.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 16 giờ 15 phút ngày 11/7/2025 đến 15 giờ 30 phút ngày 15/7/2025, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, có mặt.

4. Họ và tên: Đỗ Xuân L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 10 năm 1982 tại xã T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu X, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn L1 và bà Nguyễn Thị C3; có vợ: Đặng Thị T5; con: 04 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không;

2

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 16 giờ 15 phút ngày 11/7/2025 đến 15 giờ 15 phút ngày 15/7/2025, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hà Văn H, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu Đ, xã S, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

- Anh Chu Văn P, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu Đ, xã S, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

Người làm chứng:

Anh Trần Văn K2, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 11/7/2025, tại bàn uống nước ở sân nhà Trần Văn T3, sinh năm 1986 ở khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ, Công an xã T phát hiện, bắt quả tang 04 đối tượng gồm Trần Văn T3; Dương Mai K, sinh năm 1976 ở khu B, xã V, tỉnh Phú Thọ; Đỗ Xuân L, sinh năm 1982 ở khu X, xã T, tỉnh Phú Thọ; Trần Gia C, sinh năm 1987 ở khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ đang đánh bạc dưới hình thức đánh “ba cây” sát phạt nhau bằng tiền. Vật chứng thu giữ tại nơi các đối tượng đánh bạc: số tiền 5.750.000 đồng (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng); 36 quân bài tú lơ khơ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu đen.

Công an xã T, tỉnh Phú Thọ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, xác minh ban đầu và chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh P để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ: Trưa ngày 11/7/2025, Trần Văn T3, Dương Mai K, Đỗ Xuân L, Trần Gia C, anh Chu Văn P, sinh năm 1985 và anh Hà Văn H, sinh năm 1998 đều ở khu Đ, xã S, tỉnh Phú Thọ cùng ăn cơm, uống rượu tại nhà Trần Văn T3. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi ăn cơm uống rượu xong, Trần Văn T3, Dương Mai K, Đỗ Xuân L, Trần Gia C ra bộ bàn ghế đá ở sân nhà T3 uống nước. Tại bàn uống nước có sẵn 01 bộ bài tú lơ khơ nên khoảng 13 giờ 55 phút cùng ngày, T3, K, L, C cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “ba cây” sát phạt nhau bằng tiền. Các đối tượng không nhớ ai là người khởi xướng, rủ rê đánh bạc đầu tiên. Thống nhất đặt cược thấp nhất 100.000 đồng/ván. Không thống nhất về việc thu nộp tiền hồ (tiền thuê địa điểm đánh bạc) và không có ai thu tiền hồ của các đối tượng. Tất cả đều đồng ý.

Lúc này, anh Chu Văn P và anh Hà Văn H đang ở sân cách bộ bàn ghế 5-7m thì Trần Gia C hỏi anh H đổi từ tiền tài khoản sang tiền mặt số tiền 1.500.000 đồng, Trần Văn T3 hỏi anh H đổi từ tiền tài khoản sang tiền mặt số tiền 2.000.000 đồng; C và T3 không nói với anh H đổi tiền để làm gì, anh H cũng không biết việc C và T3 đổi tiền để làm gì; anh H đồng ý. Sau khi đổi được tiền mặt, C trả nợ cho anh P 200.000 đồng Cư nợ trước đó, còn lại số tiền 1.300.000 đồng C sử dụng để đánh bạc. T3 sử dụng 2.000.000 đồng đổi được của anh H và 500.000 đồng Tình có sẵn để đánh bạc. Còn

3

anh H và anh P do đã uống rượu nên vào phòng khách nhà T3 ngủ đến khoảng 14 giờ 30 thì ra về.

Trần Gia C là người lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở bàn uống nước và bỏ các quân 10, J, Q, K (còn lại 36 quân bài từ quân “A” đến quân “9”) sau đó đưa cho Đỗ Xuân L chia cho mỗi người 03 quân bài. Dương Mai K là người có tổng điểm cao nhất nên cầm chương và chia bài ván đầu tiên. Các đối tượng ngồi đánh bạc tại bộ bàn ghế đá ở sân nhà T3 theo hình vòng tròn, bên phải T3 lần lượt là K, L, C (C ngồi bên trái T3).

Hình thức đánh “ba cây” như sau: Người chia bài (người cầm chương) sử dụng 36 quân bài tú lơ khơ gồm các quân từ quân “A” đến quân “9” (tương ứng số điểm từ 1 đến 9) chia cho mỗi người chơi 03 quân bài. Mỗi người chơi đặt cược thấp nhất là 100.000 đồng/ván, ai đặt cao hơn thì tùy. Sau đó những người chơi cộng điểm bài của mình và so bài với người cầm chương. Nếu tổng điểm lớn hơn 10 thì chỉ tính hàng đơn vị, điểm cao nhất là 10, thấp nhất là 1 điểm. Người nào có điểm thấp hơn điểm của người cầm chương thì thua bạc và phải trả cho người cầm chương số tiền đã đặt cược; người nào có điểm cao hơn điểm của người cầm chương thì thắng bạc và được người cầm chương trả cho số tiền bằng số tiền đã đặt cược. Ai được 9, 10 điểm thì nhân đôi số tiền đã đặt cược. Ai được 10 điểm thì được cầm chương và chia bài ván tiếp theo.

Khi đánh bạc, C có 1.300.000 đồng, T3 có 2.500.000 đồng, L có 1.000.000 đồng, K có 950.000 đồng. Các đối tượng sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.750.000 đồng (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Quá trình đánh bạc, các đối tượng không có ai vay, mượn tiền để đánh bạc.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày có anh Trần Văn K2, sinh năm 1991 ở khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ đến nhưng chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc liên tục đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an xã T, tỉnh Phú Thọ bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: Số tiền 5.750.000 đồng (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng); 36 quân bài tú lơ khơ tạm giữ khi bắt quả tang, là vật chứng của vụ án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong lắp 01 sim là của Trần Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu đen, bên trong lắp 01 sim của Trần Gia C; là tài sản của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Anh Trần Văn K2 đến chỗ các bị cáo đánh bạc nhưng chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc cùng các bị cáo nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với K2.

Anh Chu Văn P và anh Hà Văn H ăn cơm, uống rượu tại nhà Trần Văn T3 sau đó ngủ trong phòng khách, sau đó ra về, không biết việc các bị cáo đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tại sân nhà T3. Anh H đổi tiền mặt cho Trần Gia C và Trần Văn T3 nhưng không biết C và T3 đổi tiền để đánh bạc. Nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh P và anh H.

Về tài sản, thu nhập: Bị cáo Dương Mai K là lao động tự do, hiện sinh sống cùng gia đình, thu nhập khoảng 4.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra bị cáo không có tài sản gì có giá trị.

4

Các bị cáo Trần Văn T3; Trần Gia C, Đỗ Xuân L là lao động tự do, hiện sinh sống cùng gia đình, thu nhập khoảng 3.750.000 đồng/tháng. Ngoài ra các bị cáo không có tài sản gì có giá trị.

Cáo trạng số: 03/CT –VKSKV6-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ truy tố bị cáo Dương Mai K và đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3, Đỗ Xuân L phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Mai Khương .

Xử phạt bị cáo Dương Mai K 07 (Bảy) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù . Bị cáo được trừ 04 (Bốn) ngày bị tạm giữ (Từ ngày 11/07/2025 đến ngày 15/07/2025) quy đổi bằng bốn ngày tù, bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù đến 08 (tám) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù. Tổng hợp với hình phạt bị cáo chưa chấp hành của bản án số 19/2024/ HS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, tính đến ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 11/7/2025 bị cáo còn phải chấp hành là 04 tháng 20 ngày cải tạo không giam giữ quy đổi thành 01 (một) tháng 16 (mười sáu) ngày tù. Tổng hợp hình phạt cả hai bản án bị cáo phải chấp hành là từ 08 (T6) tháng 12 (mười hai) ngày tù đến 10 (mười) tháng 12 (mười hai) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Gia C;

Xử phạt bị cáo Trần Gia C từ 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi tư) tháng đến 30 (ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Trần Gia C thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo Trần Gia C cho UBND xã T, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng: vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T3.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 từ 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian bị cáo bị tạm giữ là 04 (Bốn) ngày (Từ ngày 11/7/2025 đến ngày 15/07/2025) quy đổi bằng 12 (Mười hai) ngày cải

5

tạo không giam giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là từ 11 (Mười một) tháng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ đến 14 (mười bốn) tháng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Văn T3 cho UBND xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Bị cáo Trần Văn T3 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án hình sự.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn L2.

Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân L 07 (Bảy) tháng cải tạo không giam giữ đến 9 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian bị cáo bị tạm giữ là 04 (Bốn) ngày (Từ ngày 11/7/2025 đến ngày 15/07/2025) quy đổi bằng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 06 (Sáu) tháng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ đến 08 (tám) tháng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đỗ Xuân L cho UBND xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Bị cáo Đỗ Xuân L phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3 và Đỗ Xuân L.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.750.000đ (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy: 36 (ba mươi sáu) quân bài tú lơ khơ, đã qua sử dụng.

6

Trả lại cho bị cáo Trần Gia C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, màu đen đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn T3 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, bên trong lắp 01 sim đã qua sử dụng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3, Đỗ Xuân L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Từ khoảng 14 giờ 00 phút đến 16 giờ 10 phút ngày 11/7/2025, tại bàn uống nước ở sân nhà Trần Văn T3 ở khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ, Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3, Đỗ Xuân L có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “ba cây” sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 5.750.000 đồng (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3, Đỗ Xuân L phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

7

2. ...”

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với từng bị cáo:

Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết rằng đánh bạc không những là vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự công cộng, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình nhưng vẫn cố tình vi phạm. Vì vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt tương xứng mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng chung ý chí đánh bạc với nhau được thua bằng tiền với mục đích vụ lợi, có vai trò ngang nhau vì cùng rủ rê đánh bạc chỉ có sự khác biệt hơn về số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.

Đối với bị cáo Dương Mai K:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Mai K đã bị kết án theo Bản án số 19/2024/HSST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng Huân chương hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do vậy, cần phải có mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Gia C:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào song bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm cùng loại nên cần có mức hình phạt phù hợp tương xứng với hành vi vi phạm của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo hướng dẫn tại khoản 9 Nghị quyết số 04 /2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hơn nữa, bị cáo Trần Gia C là người trực tiếp thờ cúng chú là liệt sỹ Trần Đỗ T7 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do vậy, có thể cho bị cáo Trần Gia C được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Văn T3:

8

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào song bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm cùng loại nên cần có mức hình phạt phù hợp tương xứng với hành vi vi phạm của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hơn nữa, bị cáo T3 có 03 con nhỏ, bị cáo là lao động tự do thu nhập của gia đình không ổn định nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nên có thể cho bị cáo Trần Văn T3 cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục, răn đe các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo nhưng cần áp dụng khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Trần Văn T3 phải thực hiện một số công việc lao động công ích để phục vụ cộng đồng là phù hợp.

Đối với bị cáo Đỗ Xuân L:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được tặng danh hiệu chiến sỹ tiên tiến đối với binh nhất, bố bị cáo tham gia kháng chiến là thương binh nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, có thể cho bị cáo Đỗ Văn L2 cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục, răn đe các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo Đỗ Xuân L là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo nhưng cần áp dụng khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo L phải thực hiện một số công việc lao động để phục vụ cộng đồng là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3 và Đỗ Xuân L không có tài sản riêng gì có giá trị ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 5.750.000đ (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo, các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với 36 (ba mươi sáu) quân bài tú lơ khơ, đã qua sử dụng các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, màu đen đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim của Trần Gia C không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, bên trong lắp 01 sim đã qua sử dụng của Trần Văn T3 là của bị cáo không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo T3 nên trả lại cho bị cáo T3 là phù hợp nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

9

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3, Đỗ Xuân L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Trần Văn K2 đến chỗ các bị cáo đánh bạc nhưng chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc cùng các bị cáo nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với K2 là phù hợp.

Đối với anh Chu Văn P và anh Hà Văn H ăn cơm, uống rượu tại nhà Trần Văn T3 sau đó ngủ trong phòng khách, sau đó ra về, không biết việc các bị cáo đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tại sân nhà T3. Anh H đổi tiền mặt cho Trần Gia C và Trần Văn T3 nhưng không biết C và T3 đổi tiền để đánh bạc. Nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh P và anh H là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Mai Khương .

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Gia C;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T3.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Xuân L.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố các bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3, Đỗ Xuân L phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Dương Mai K 08 (T6) tháng tù. Bị cáo được trừ 04 (Bốn) ngày bị tạm giữ (Từ ngày 11/07/2025 đến ngày 15/07/2025) quy đổi bằng bốn ngày tù, bị cáo còn phải chấp hành 07 (Bảy) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù. Tổng hợp với hình phạt bị cáo chưa chấp hành của bản án số 19/2024/ HS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, tính đến ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 11/7/2025 bị cáo còn phải chấp hành là 04 tháng 20 ngày cải tạo không giam giữ quy đổi thành 01 (một) tháng 16 (mười sáu) ngày tù. Tổng hợp hình phạt cả hai bản án bị cáo phải chấp hành là từ 09 (Chín) tháng 12 (mười hai) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Trần Gia C 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Trần Gia C thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo Trần Gia C cho UBND xã T, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

10

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo Trần Gia C thay đổi nơi cư trú thì UBND xã T, tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian bị cáo bị tạm giữ là 04 (Bốn) ngày (Từ ngày 11/7/2025 đến ngày 15/07/2025) quy đổi bằng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 11 (Mười một) tháng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Văn T3 cho UBND xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Bị cáo Trần Văn T3 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân L 07 (Bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian bị cáo bị tạm giữ là 04 (Bốn) ngày (Từ ngày 11/7/2025 đến ngày 15/07/2025) quy đổi bằng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 06 (Sáu) tháng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đỗ Xuân L cho UBND xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Bị cáo Đỗ Xuân L phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3 và Đỗ Xuân L.

2. Về xử lý vật chứng:

11

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.750.000đ (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

(Theo phiếu ủy nhiệm chi do kho bạc nhà nước khu vực VIII lập ngày 07/11/2025 thể hiện tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an tỉnh P với Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Phú Thọ)

Tịch thu tiêu hủy: 36 (ba mươi sáu) quân bài tú lơ khơ, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Trần Gia C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, màu đen đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn T3 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, bên trong lắp 01 sim đã qua sử dụng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an tỉnh P với Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Phú Thọ)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Mai K, Trần Gia C, Trần Văn T3, Đỗ Xuân L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 6 – Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng THA dân sự khu vực 6 – Phú Thọ;
  • - UBND xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Cơ quan THA hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HSVA, lưu văn phòng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Trang

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Mai k và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger