|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày: 23/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Niê Y Ling (Ma Bin);
- Ông Phạm Xuân Lai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Luân–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 26/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên đối với các bị cáo:
1. Lê Thanh H (tên gọi khác: Hùng C), sinh ngày 02 tháng 8 năm 1982 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê C1, sinh năm 1959 và bà Ngô Thị N, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Tuyết S, sinh năm 1986; con: có 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 22/5/2001, bị Công an thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích;
Ngày 14/10/2002, bị Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 136 Bộ Luật hình sự năm 1999 (chấp hành xong ngày 29/4/2005).
Bị cáo Lê Thanh H bị bắt tạm giam từ ngày 11/11/2024 đến ngày 07/02/2025 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 08/02/2025 đến ngày 29/3/2025 tại xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Văn T, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1985 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Đặng Thị L, sinh năm 1953; vợ: Võ Thị Kim T1, sinh năm 1986; con: có 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Văn T bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 01/02/2025 đến ngày 29/3/2025 tại xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
3. Nguyễn Văn C3, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1978 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1959; vợ: Trần Thị Ngọc H1, sinh năm 1994; con: có 03 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024); tiền án: Không; tiền sự: ngày 05/8/2024, bị Công an xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (đã chấp hành ngày 06/8/2024).
Bị cáo Nguyễn Văn C3 bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 01/02/2025 đến ngày 29/3/2025 tại xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
4. Võ Thị Thanh H2, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1985 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn P, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ B, sinh năm 1964 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1965; chồng: Thiều Văn C5, sinh năm 1982; con: có 02 con (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Võ Thị Thanh H2 bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 09/11/2024 đến ngày 29/3/2025 tại xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
5. Trần Thị L1, sinh ngày 06 tháng 06 năm 1950 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim C6 (chết) và bà Huỳnh Thị N1 (chết); chồng: Trần Quang M (chết); con: có 05 con (lớn đã chết, nhỏ sinh năm 1994); tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 05/8/2024, bị Công an xã Đ, huyện S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi Đánh bạc (chấp hành ngày 19/8/2024).
Bị cáo Trần Thị L1 bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 08/11/2024 đến ngày 29/3/2025 tại xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
6. Lê Thị Ngọc C7, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1979 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T3 (chết) và bà Trần Thị N2, sinh năm 1950; chồng: Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1971 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 1997; tiền án: Ngày 08/9/2022, bị Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 03/6/2016, bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc (Đã chấp hành xong).
Ngày 08/6/2016, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, số tiền 1.000.000 đồng (Đã chấp hành xong).
Ngày 22/01/2018, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, số tiền 1.000.000 đồng, Đã nộp phạt (Đã chấp hành xong).
Ngày 19/02/2022, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, số tiền 1.500.000 đồng (Đã chấp hành xong).
Bị can Lê Thị Ngọc C7 bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 01/02/2025 đến ngày 29/3/2025 tại xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
7. Bùi Thị H3, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1980 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, Phú Yên; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi K1 (chết) và bà Nguyễn Thị H4 (chết); chồng: Nguyễn Quốc P, sinh năm 1976; con: có 03 con (lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2009); tiền án: ngày 14/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Sông Hinh, Phú Yên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không.
Bị cáo Bùi Thị H3 bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 09/11/2024 đến ngày 29/3/2025 tại xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
8. Đoàn Thị H5, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1959 tại tỉnh Khánh Hoà; nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn V (chết) và bà Trần Thị R (chết); chồng: Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1958; con: có 04 con (lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1995); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 18/5/2015, bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi cho người khác sử dụng chỗ ở của mình để đánh bạc (Chấp hành xong ngày 18/7/2015).
Ngày 14/7/2023, bị Công an xã Đ, huyện S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (Chấp hành xong ngày 17/7/2023).
Bị cáo Đoàn Thị H5 bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 09/11/2024 đến ngày 29/3/2025 tại xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
9. Ngô Thị Kim L2 (tên gọi khác: M1), sinh ngày 03 tháng 5 năm 1984 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đình C8 (chết) và bà Kiều Thị N3, sinh năm 1959; chồng: Ngô Xuân C9, sinh năm 1977; con: có 03 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 11/3/2022, bị Công an xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. (Chấp hành xong ngày 29/3/2022).
Ngày 14/11/2024, bị Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. (Chấp hành xong ngày 09/12/2024).
Bị can Ngô Thị Kim L2 bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 09/11/2024 đến ngày 29/3/2025 tại xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
10. Nguyễn Thị Bích L3 (tên gọi khác: L4), sinh ngày 21 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L5 (chết) và bà Nguyễn Thị P1 (chết); chồng: Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1982; con: có 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không.
Bị can Nguyễn Thị Bích L3 bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 09/11/2024 đến ngày 29/3/2025 tại xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
11. Nguyễn Thị L6, sinh ngày 09 tháng 4 năm 1969 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Buôn Q, xã Đ, huyện S, Phú Yên; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T6 (chết) và bà Nguyễn Thị C10 (chết); chồng: Nguyễn Ngọc N4, sinh năm 1966 (đã ly hôn); con: có 04 con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không.
Bị can Nguyễn Thị L6 bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025 và bị C2 đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 01/02/2025 đến ngày 29/3/2025 tại xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Quốc P, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Trần Hải T7, sinh năm 1970; địa chỉ: Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Trình Ngọc Nhu A1, sinh năm 1985; địa chỉ: Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Lê C1, sinh năm 1959; địa chỉ: Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
2. Đặng Thị T8, sinh năm 1941; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.
3. Nguyễn Thị H6, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, không có lý do.
4. Trình Ngọc Cúc A, sinh năm 1984; địa chỉ: Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/11/2024, Lê Thanh H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Trần Thị L1, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2, Nguyễn Thị Bích L3, Nguyễn Thị L6 và một số đối tượng (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến khu vực bãi đất trống thuộc quyền sử dụng của Trình Ngọc Nhu A1 thuộc Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên (gần khu vực Cầu S) để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc dĩa. Cách chơi như sau: Người làm cái sử dụng 01 bộ chén dĩa, 04 con vị hình tròn được cắt ra từ lá bài tây (chưa xác định được người chuẩn bị). Khi chơi, người làm cái tiến hành xóc dĩa (tức là bỏ 04 con vị trên dĩa, úp chén lại và xóc). Sau khi xóc xong thì người chơi bắt đầu đặt cược. Quy tắc đặt cược là đặt theo chẵn lẻ (chẵn là 04 mặt sấp hoặc 04 mặt ngửa hoặc 02 mặt sấp 02 mặt ngửa; lẻ là 01 mặt sấp 03 mặt ngửa hoặc 01 mặt ngửa 03 mặt sấp). Đặt lẻ là đặt tiền cược bên tay trái của người làm cái, đặt chẵn là đặt tiền cược bên tay phải của người làm cái. Sau khi người chơi đặt cược xong thì người làm cái mở dĩa, nếu người chơi thắng thì người chơi sẽ được lấy lại số tiền đã đặt cược đồng thời người làm cái chung cho
người chơi số tiền bằng với số tiền đã đặt cược, nếu người chơi thua thì người làm cái sẽ lấy số tiền đã đặt cược. Số tiền cược mà mỗi đối tượng đặt cược mỗi ván dao động từ 10.000 đồng đến 400.000 đồng. Cụ thể:
Trong khoảng thời gian từ 11h00' đến khoảng 13h00' ngày 03/11/2024, 01 nam thanh niên (không biết tên, tuổi, địa chỉ) làm cái xóc dĩa cho Trần Thị L1, Nguyễn Văn C3 và nhiều đối tượng (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đặt cược. Trong quá trình chơi có nhiều người nghỉ và cũng có nhiều người khác vào chơi. Đến khoảng 13h00' cùng ngày, nam thanh niên làm cái xóc dĩa nghỉ thì Lê Thanh H đến chơi và làm cái xóc dĩa cho Võ Thị Thanh H2, Trần Thị L1, Nguyễn Văn C3, Đoàn Thị H5, Nguyễn Thị Bích L3, Ngô Thị Kim L2, Nguyễn Thị L6, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3 và một số đối tượng (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đặt cược. Sau đó, khoảng 15h00' cùng ngày thì Lê Thanh H nghỉ nên Nguyễn Văn T làm cái xóc dĩa cho các đối tượng tiếp tục chơi đánh bạc đến khoảng 18h00' cùng ngày thì bị Công an huyện S kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 21.120.000 đồng, gồm thu tại chiếu bạc số tiền 2.370.000 đồng và thu giữ trong người các đối tượng dùng để đánh bạc số tiền 18.750.000 đồng (trong đó, Nguyễn Văn T 1.600.000 đồng, Võ Thị Thanh H2 12.650.000 đồng, Nguyễn Văn C3 4.500.000 đồng). Quá trình điều tra xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 21.770.000 đồng, trong đó số tiền thu trên chiếu bạc 2.370.000 đồng và thu giữ của các đối tượng dùng để đánh bạc là 19.400.000 đồng (Lê Thanh H 650.000 đồng, Nguyễn Văn T 1.600.000 đồng, Võ Thị Thanh H2 12.650.000 đồng, Nguyễn Văn C3 4.500.000 đồng).
* Vật chứng vụ án:
- - Tiền Ngân hàng N6: 21.850.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng chẵn);
- - Tiền Ngân hàng N6: 2.090.000 đồng (Hai triệu không trăm chín mươi ngàn đồng chẵn, thu trên người của Nguyễn Văn T, Lê Thị Ngọc C7 và Đoàn Thị H5);
- - 01 bóng đèn, kích thước (11x08)cm, thân bóng đèn có hoa văn rằn ri;
- - 01 tấm bạt, kích thước (360x320)cm, màu xanh cam;
- - 01 cái kéo kim loại dài 13cm, phần tay cầm bọc nhựa màu hồng- trắng, thân kéo có ghi dòng chữ "stainless Steel";
- - 02 đĩa sứ màu trắng, đường kính mặt đĩa 15 cm;
- - 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn trắng đỏ, đường kính mặt đĩa 18cm;
- - 03 chén sứ màu trắng bên ngoài có hoa văn màu xanh trắng, đường kính 11,5cm;
- - 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt tròn, đường kính 2,5cm, có gắn chữ LV, phần dây dài 48cm;
- - 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, bên ngoài vỏ có ghi dòng chữ "DOUBLE K";
- - 04 mảnh giấy hình tròn được cắt từ lá bài tây;
- - Nhiều mảnh lá bài tây bị cắt nhiều kích thước khác nhau;
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A39;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, loại bàn phím;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58;
- - 01 cái ví.
Cáo trạng số 15/CT-VKS, ngày 24/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh đã truy tố Lê Thanh H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Trần Thị L1, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2, Nguyễn Thị Bích L3 và Nguyễn Thị L6 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo H, T, C3, H2, L1, C7, H3, H5, L2, L3 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Lưu K2 thừa nhận hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Trần Thị L1, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2, Nguyễn Thị Bích L3 và Nguyễn Thị L6 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc C7 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị H3 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/11/2024 đến ngày 07/02/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C3 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thị Kim L2 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Thị H5 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L6 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, o và s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị L1 từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho Nguyễn Văn T; khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho Võ Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị Bích L3 (Lài): Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Võ Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị Bích L3 (L4) mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
* Về vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước gồm: 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt tròn, đường kính 2,5cm, có gắn chữ LV, phần dây dài 48cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 của bị cáo Võ Thị Thanh H2 và số tiền 21.770.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng) là tiền các bị cáo và một số đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.170.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng) thu trên người của Nguyễn Văn T, Lê Thị Ngọc C7, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2 để đảm bảo thi hành án.
- Trả cho các bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 và 01 cái ví; Lê Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X; Ngô Thị Kim L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12; Nguyễn Thị L6 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh; Lê Thị Ngọc C7 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 và 01
điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; Bùi Thị H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 loại bàn phím.
- Tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng gồm:
- 01 bóng đèn, kích thước (11x08)cm, thân bóng đèn có hoa văn rằn ri;
- 01 tấm bạt, kích thước (360x320)cm, màu xanh cam;
- 01 cái kéo kim loại dài 13cm, phần tay cầm bọc nhựa màu hồng- trắng, thân kéo có ghi dòng chữ "stainless Steel";
- 02 đĩa sứ màu trắng, đường kính mặt đĩa 15 cm;
- 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn trắng đỏ, đường kính mặt đĩa 18cm;
- 03 chén sứ màu trắng bên ngoài có hoa văn màu xanh trắng, đường kính 11,5cm;
- 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, bên ngoài vỏ có ghi dòng chữ "DOUBLE K";
- 04 mảnh giấy hình tròn được cắt từ lá bài tây;
- Nhiều mảnh lá bài tây bị cắt nhiều kích thước khác nhau.
* Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Ngô Thị Kim L2, Nguyễn Thị Bích L3, Bùi Thị H3 và Lê Thị Ngọc C7 mỗi bị cáo 10.000.000đ. Riêng bị cáo Trần Thị L1, Đoàn Thị H5, Nguyễn Thị L6 đã lớn tuổi, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.
Ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Quốc P trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 78M1-198.89 là xe của ông, ngày 03/11/2024 vợ là Bùi Thị H3 có sử dụng xe này đi bán vé số và tham gia đánh bạc nhưng bản thân ông không biết việc vợ tham gia đánh bạc nên xin nhận lại chiếc xe.
Ông Trần Hải T7 trình bày: Ông không có quan hệ, quen biết gì người nào có tên Võ Thị Thanh H2. Ngày 03/11/2024 có một người phụ nữ đến hỏi ông lấy tiền mặt 10.000.000đ và người phụ nữ này sẽ chuyển khoản 10.000.000đ vào số tài khoản V1 (tên TRAN HAI THACH) của ông. Bản thân ông nghe vậy đồng ý nhưng không biết người phụ nữ lấy tiền mặt làm gì. Sau này làm việc với Cơ quan công an ông mới biết người phụ nữ tên Võ Thị Thanh H2.
Ông Trình Ngọc Nhu A1 trình bày: Trước đây, mảnh đất trống nằm trên đường mòn đối diện chéo với nhà máy mì ở Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên là đất thuộc quyền quản lý của ba ông – Trình Ngọc A1. Tuy nhiên hiện ba ông đã mất nên thuộc quyền quản lý của ông. Việc vào ngày 03/11/2024 một số đối tượng sử dụng mảnh đất này để đánh bạc thì ông không biết.
Ý kiến người làm chứng:
Ông Lê C1 trình bày: Khoảng 14h đến 15h ngày 03/11/2024, lê Thanh H (con trai ông) có mua thịt bò về nhà cho ông nấu và cùng nhậu với bạn của H (tên D). Việc H tham gia đánh bạc vào thời gian nào ông không biết.
Bà Đặng Thị T8 trình bày: Bà đã được Lê Thanh H bồi thường xong số tiền 99.000đ theo Bản án số 40/HSST ngày 10/6/2002 của TAND tỉnh Phú Yên.
Bà Nguyễn Thị H6 trình bày: Bà đã được Lê Thanh H bồi thường xong số tiền 20.000đ theo Bản án số 40/HSST ngày 10/6/2002 của TAND tỉnh Phú Yên.
Ông Trình Ngọc Cúc A trình bày: Khoảng 07h đến 08h ngày 03/11/2024, ông có ngồi uống nước với Lê Thanh H tại quán bà T10. Trong quán lúc đó có 5 đên 7 người ngồi bàn riên và nằm võng. Trong lúc ngồi uống nước với nhau H có rủ nhậu nên ông đồng ý và hùng qua lò mổ bỏ của Sáu T11 mua thịt bò đưa cho ông. Đến khoảng 10h thì ông cầm thịt bò đến quán Hồ Gia T12 nhờ nấu nhưng quán đóng của nên đem về nhà cha của ông (ông C1) nhờ nấu để nhậu. Sau đó, ông đi công việc đến khoảng 15h thì H gọi đến nhà ông nhậu. Sau đó ông đến thì thấy H mới vủa về đến và cùng nhau nhậu đến hơn 17h cùng ngày thì nghỉ ông đi về nhà, khoảng thời gian từ 10h đến 15 giờ thì ông không gặp H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Lưu K2 thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên trên cơ sở lời khai của các bị cáo còn lại và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 11h00' đến khoảng 18h00' ngày 03/11/2024, tại khu vực bãi đất trống của Trình Ngọc Nhu A1 thuộc Buôn N, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên, Lê Thanh H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Trần Thị L1, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2, Nguyễn Thị Bích L3, Nguyễn Thị L6 và một số đối tượng (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc dĩa, với tổng số tiền dùng đánh bạc là 21.770.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Bùi Thị H3, Lê Thị Ngọc C7 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là “tái phạm”; các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Thị L1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Ngô Thị Kim L2, Đoàn Thị H5, Nguyễn Thị Bích L3 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Lê Thanh H, Bùi Thị H3 và Lê Thị Ngọc C7 được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Thị L6 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò:
Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc thực hiện hành vi đánh bạc nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và làm gia tăng tệ nạn xã hội tại địa phương.
Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lê Thanh H và Nguyễn Văn T tham gia với vai trò “làm cái” cho các bị cáo còn lại đặt cược nên có vai trò ngang nhau trong vụ án. Tuy nhiên, bị cáo H có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội Cướp giật tài sản, bị xử lý hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và chỉ có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên phải chịu mức hình phạt cao hơn và cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác
dụng răn đe, giáo dục. Tuy nhiên, việc các bị cáo “làm cái” là nảy sinh nhất thời do người “làm cái” trước nghỉ, không có ý định từ trước. Bị cáo T có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có cha (Nguyễn Văn K) được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, không có tình tiết tăng nặng, đồng thời xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần cách ly ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa.
Xét các bị cáo Lê Thị Ngọc C7 và Bùi Thị H3 có 01 tiền án về hành vi đánh bạc, chưa được xoá án tích thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”, bị cáo C7 còn có nhân thân xấu 04 lần bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H3 và tất cả các bị cáo khác. Bị cáo H3 có bố mẹ chồng (Nguyễn Văn K3, Nguyễn Thị Ngọc Á) được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, ba nên khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn C3, Trần Thị L1 có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc; bị cáo Ngô Thị Kim L2 và Đoàn Thị H5 có nhân thân xấu đã từng bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc. Các bị cáo đều không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục thực hiện cùng một hành vi tham gia đặt cược với vai trò ngang nhau nên phải chịu mức hình phạt bằng nhau. Tuy nhiên, xét bị cáo Trần Thị L1 tuổi đã cao và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới khung hình phạt là phù hợp.
Bị cáo Võ Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Bích L3 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H2, L3 hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe.
Đối với bị cáo Trần Thị L7 quá trình điều tra và tại phiên toà không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trên cơ sở lời khai của các bị cáo còn lại và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị L6 có tham gia đặt cược vào ngày 03/11/2024. Như vậy, bị cáo L6 thể hiện thái độ không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt nhưng chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự không đảm bảo điều kiện hưởng án treo nên xử phạt bị cáo mức hình phạt ngang với các bị cáo H, C3, L2, H5, H2 là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo H, T, C3, H2, L2, L3, H3 và C7 mỗi bị cáo 10.000.000đ. Riêng bị cáo Trần Thị L1, Đoàn Thị H5, Nguyễn Thị L6 là người già hết tuổi lao động, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.
[6] Đối với Trần Hải T7 đã nhận chuyển khoản và đưa 10.000.000đ tiền mặt cho bị cáo H2 nhưng không biết bị cáo lấy tiền mặt nhằm mục đách đánh bạc, Trình Ngọc N5 Anh không biết các bị cáo sử dụng bãi đất trống do mình đang quản lý
làm địa điểm đánh bạc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T7, A là có căn cứ.
Đối với thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ làm cái xóc dĩa đầu tiên và một số đối tượng tham gia đánh bạc không rõ tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S (nay là Cơ quan cảnh sat điều tra Công an tỉnh P) tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo quy định là có căn cứ.
Đối với xe mô tô không gắn biển số, trên vỏ xe có ghi dòng chữ CUB, số khung RP2DCB7UMEA631518, số máy VZS139FMB631518 chưa làm việc được với người đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P) tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
[7] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước gồm: 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt tròn, đường kính 2,5cm, có gắn chữ LV, phần dây dài 48cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 của bị cáo Võ Thị Thanh H2 và số tiền 21.770.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng) là tiền các bị cáo và một số đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.170.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng) thu trên người của Nguyễn Văn T, Lê Thị Ngọc C7, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2 để đảm bảo thi hành án.
- Trả cho các bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 và 01 cái ví; Lê Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X; Ngô Thị Kim L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12; Nguyễn Thị L6 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh; Lê Thị Ngọc C7 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; Bùi Thị H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 loại bàn phím.
- Tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng gồm:
- 01 bóng đèn, kích thước (11x08)cm, thân bóng đèn có hoa văn rằn ri;
- 01 tấm bạt, kích thước (360x320)cm, màu xanh cam;
- 01 cái kéo kim loại dài 13cm, phần tay cầm bọc nhựa màu hồng- trắng, thân kéo có ghi dòng chữ "stainless Steel";
- 02 đĩa sứ màu trắng, đường kính mặt đĩa 15 cm;
- 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn trắng đỏ, đường kính mặt đĩa 18cm;
- 03 chén sứ màu trắng bên ngoài có hoa văn màu xanh trắng, đường kính 11,5cm;
- 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, bên ngoài vỏ có ghi dòng chữ "DOUBLE K";
- 04 mảnh giấy hình tròn được cắt từ lá bài tây;
- Nhiều mảnh lá bài tây bị cắt nhiều kích thước khác nhau.
Nhiều mảnh lá bài tây bị cắt nhiều kích thước khác nhau.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án mỗi bị cáo là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H (H), Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Trần Thị L1, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2 (M1), Nguyễn Thị Bích L3 (L4), Nguyễn Thị L6 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc C7 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị H3 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh H (H) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11/11/2024 đến ngày 07/02/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C3 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thị Kim L2 (M) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Thị H5 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 09/11/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L6 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 31/01/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, o, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị L1 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho Nguyễn Văn T; khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho Võ Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị Bích L3 (Lài): Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Võ Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị Bích L3 (L4) mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; bị cáo Võ Thị Thanh H2 và Nguyễn Thị Bích L3 (L4) cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo Nguyễn Văn T, Võ Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Bích L3 (Lài) có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Buộc các bị cáo Lê Thanh H (H), Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3, Ngô Thị Kim L2(M1) và Nguyễn Thị Bích L3 (Lài) mỗi bị cáo nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Trần Thị L1, Đoàn Thị H5, Nguyễn Thị L6 .
- Đối với thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ làm cái xóc dĩa đầu tiên và một số đối tượng tham gia đánh bạc không rõ tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S (nay là Cơ quan cảnh sat điều tra Công an tỉnh P) tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo quy định.
- Đối với xe mô tô không gắn biển số, trên vỏ xe có ghi dòng chữ CUB, số khung RP2DCB7UMEA631518, số máy VZS139FMB631518 chưa làm việc được
với người đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P) tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 21.770.000đ tại Biên lai thu tiền số 0001366 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Hinh; 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt tròn, đường kính 2,5cm, có gắn chữ LV, phần dây dài 48cm và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58.
+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.090.000đ tại Biên lai thu tiền số 0001365 ngày 26/3/2025 và 80.000đ tại Biên lai thu tiền số 0001366 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.
+ Trả cho các bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 và 01 cái ví; Lê Thanh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X; Ngô Thị Kim L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12; Nguyễn Thị L6 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh; Lê Thị Ngọc C7 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; Bùi Thị H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 loại bàn phím.
+ Tiêu huỷ các vật chứng gồm:
- 01 bóng đèn, kích thước (11x08)cm, thân bóng đèn có hoa văn rằn ri;
- 01 tấm bạt, kích thước (360x320)cm, màu xanh cam;
- 01 cái kéo kim loại dài 13cm, phần tay cầm bọc nhựa màu hồng- trắng, thân kéo có ghi dòng chữ "stainless Steel";
- 02 đĩa sứ màu trắng, đường kính mặt đĩa 15 cm;
- 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn trắng đỏ, đường kính mặt đĩa 18cm;
- 03 chén sứ màu trắng bên ngoài có hoa văn màu xanh trắng, đường kính 11,5cm;
- 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, bên ngoài vỏ có ghi dòng chữ "DOUBLE K";
- 04 mảnh giấy hình tròn được cắt từ lá bài tây;
- Nhiều mảnh lá bài tây bị cắt nhiều kích thước khác nhau.
(tất cả các vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận đồ vật tài liệu vật chứng ngày 26/3/2025 giữa Chi cục THADS huyện S và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Thanh H(H), Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C3, Võ Thị Thanh H2, Trần Thị L1, Lê Thị Ngọc C7, Bùi Thị H3, Đoàn Thị H5, Ngô Thị Kim L2 (M1), Nguyễn Thị Bích L3
(L4) và Nguyễn Thị L6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA BÀN THỊ TIÊN |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về đánh bạc
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Hùng và đồng phạm - Đánh bạc
