Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH HƯNG

TỈNH LONG AN

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 23 - 5 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Bùi Đức Hảo
  • Ông Nguyễn Văn Sự

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Duy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An mở phiên tòa hình sự sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1996 tại huyện V; Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp G, xã K, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965; bị cáo chưa có chồng; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: bị Công an xã K xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 11/01/2025 vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 10/01/2025 đến ngày 16/01/2025 chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện V, tỉnh Long An (có mặt).

Bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện V, tỉnh Long An (có mặt).

- Người chứng kiến: Ông Trương Văn K, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được thể hiện như sau:

- Cáo trạng số 14/CT-VKSVH ngày 29 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, với hành vi được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/01/2025, bị cáo T, gọi điện thoại cho một người thanh niên tên T1 (không rõ họ tên địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và hẹn giao, nhận ma túy ở khu vực gần cầu KT7. Bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 54Z1-1025 (của Phạm Thị Kim H) đi từ nhà ở ấp G, xã K, huyện V, qua cầu kênh KT7 khoảng 500 mét thì gặp một người thanh niên bịt khẩu trang giao ma túy cho bị cáo có đặc điểm là một túi nylon có rãnh khép bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; trả tiền xong, bị cáo T để túi nylon vào túi quần trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô về xã K. Lúc 14 giờ 55 phút cùng ngày, bị cáo T đi đến đường tỉnh 831B, cách cầu KT8 khoảng 01km, thuộc ấp C, xã K, huyện V thì bị Công an xã K bắt quả tang cùng tang vật nêu trên và tiến hành niêm phong vật chứng thu giữ được bằng túi niêm phong mã số NS4.1937418 có chữ ký của Nguyễn Thị T và người chứng kiến Trương Văn K. Bị cáo T khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số: 24/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:

“Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,3083 gam, loại: Methamphetamine."

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 10/01/2025. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Bì thư được niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Võ Tuấn A, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1867 gam và vỏ bao đựng mẫu gửi đến giám định được đóng gói niêm phong số 24.

Tịch thu nộp ngân sách 01 điện thoại di động nhãn hiệu realme C51, màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ kính, số IMEI: 863320061327191/863320061327183.

Giao trả cho bà H 01 chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, màu sơn vàng-đen, biển số 54Z1-1025, số máy: VDP1P52FMH406348, RMMWCH4MM71406348, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, do tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo thống nhất hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố trong cáo trạng, quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều tự nguyện khai báo, không bị ép cung nhục hình, bị cáo bị bạn bè rủ rê nên sử dụng ma túy, số ma túy bị bắt giữ bị cáo mua để dành sử dụng dần, đang trên đường về nhà thì bị bắt giữ nên không ai biết và cũng không có mục đích nào khác. Đối với xe máy, do bà H ở chung nhà nên bị cáo tự ý lấy của bà H để sử dụng mà bà H không biết; điện thoại dùng liên lạc mua ma túy là bị cáo đã mượn của bà N1 để sử dụng từ mấy ngày trước.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H khai: Xe máy biển số 54Z1-1025 là bà mua lại từ cửa hàng xe Ba Nghiệp và được giao bản chính giấy đăng ký xe, chưa làm thủ tục sang tên; do bà ở tại nhà bị cáo T nên bị cáo T thường sử dụng xe của bà, ngày 10/01/2025, bị cáo T tự ý lấy xe mà không hỏi bà, bà không biết gì về việc bị cáo lấy xe đi mua ma túy, bà xin được nhận lại xe.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N1: Bị cáo T là con của bà, do bị cáo không có điện thoại sử dụng nên bà đã cho mượn điện thoại di động nhãn hiệu realme C51, màu đen để sử dụng, bà hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy, bà xin được nhận lại điện thoại.

Thực hiện quyền được nói lời sau cùng bị cáo nói: Bị cáo xin được giảm án để bị cáo về nuôi mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo; phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ. Cụ thể: Với mục đích để có ma túy sử dụng, ngày 10/01/2025, bị cáo gọi cho người thanh niên tên T1 không rõ lai lịch về họ tên, địa chỉ để mua 500.000 đồng ma túy đá. Sau khi nhận ma túy từ khu vực cầu K, bị cáo điều khiển xe đến đường tỉnh 831B thuộc ấp C, xã K, huyện V, tỉnh Long An thì Công an xã K bắt quả tang lúc 14 giờ 55 phút cùng ngày, thu giữ của bị cáo một túi nylon có rãnh khép bên trong chứa tỉnh thể màu trắng và được Phòng K1 Công an tỉnh L giám định đưa ra kết luận là ma túy, có khối lượng 0,3083 gam, loại: Methamphetamine. Hành vi tàng trữ ma túy với khối lượng 0,3083 gam, loại: Methamphetamine của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 14/CT-VKSVH ngày 29 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo có đủ nhận thức về tác hại của ma túy và quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất ma túy, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác cùng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người sử dụng ma túy và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có khả năng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có hình phạt tương xứng

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có. Nhưng về nhân thân: Bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 11/01/2025.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo T sinh sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định, hiện tại không có tài sản, bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[7] Từ các phân tích nêu trên, khẳng định hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội.

[8] Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Cần tịch thu tiêu hủy vật chứng là chất cấm lưu hành gồm: 01 (một) Bì thư được niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Võ Tuấn A, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1867 gam và vỏ bao đựng mẫu gửi đến giám định được đóng gói niêm phong số 24.

Đối với một điện thoại di động nhãn hiệu realme C51, màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ kính, số IMEI: 863320061327191/863320061327183, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, ý kiến của bà N1 xin nhận lại điện thoại không được chấp nhận. Việc bà N1 cho bị cáo T mượn điện thoại để sử dụng nhưng gây thiệt hại cho bà N1 thì các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ việc, trường hợp phát sinh tranh chấp thì khởi kiện bằng 01 vụ án dân sự.

Đối với chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, màu sơn vàng-đen, biển số 54Z1-1025, số máy: VDP1P52FMH406348, RMMWCH4MM71406348; kết quả xác minh bổ sung thể hiện xe nhãn hiệu HONCITI, đứng tên Trần Thị Bích N2, bà N2 đã bán xe nên không có yêu cầu gì; còn bà H khai xe mua tại cửa hàng B (có hợp đồng mua bán) chưa làm thủ tục sang tên, bị cáo T tự ý lấy xe để sử dụng, bà H không biết gì về hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy giao trả xe cho bà H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Đối với người đàn ông tên T1 bán ma túy cho bị cáo T thông qua liên lạc bằng điện thoại, không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa có căn cứ xác minh để xử lý là phù hợp.

[10] Đối với bà N1 cho bị cáo mượn điện thoại nhưng không biết gì về hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí nên bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 10/01/2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ Luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị T để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23 tháng 5 năm 2025.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Bì thư được niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Võ Tuấn A, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1867 gam và vỏ bao đựng mẫu gửi đến giám định được đóng gói niêm phong số 24.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu realme C51, màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ kính, số IMEI: 863320061327191/863320061327183.

Giao trả cho bà Phạm Thị Kim H 01 (một) chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, màu sơn vàng-đen, biển số 54Z1-1025, số máy: VDP1P52FMH406348, RMMWCH4MM71406348, không có giấy chứng nhận đăng ký xe (nay được xác định là xe nhãn hiệu HONCITI, đứng tên trong giấy đăng ký xe Trần Thị Bích N2).

Các vật chứng nêu trên hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Thị T, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1, bà Phạm Thị Kim H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - Công an tỉnh Long An (PV06, PC01);
  • - VKSND, CCTHADS;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: HS, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Với mục đích để có ma túy sử dụng, ngày 10/01/2025, bị cáo gọi cho người thanh niên tên Thanh không rõ lai lịch về họ tên, địa chỉ để mua 500.000 đồng ma túy đá. công an bắt qủa tang và thu giữ của bị cáo một túi nylon có rãnh khép bên trong chứa tỉnh thể màu trắng và được giám định đưa ra kết luận là ma túy, có khối lượng: 0,3083 gam, loại: Methamphetamine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger