Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 17-3-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Đông - Phó trưởng phòng tư pháp Thị xã Quảng Yên;
  2. Bà Bùi Thị Quỳnh Nga - Bí thư thị đoàn Thị xã Quảng Yên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Đức A - Kiểm sát viên;

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/HSST ngày 21/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang T; Sinh ngày 29/4/2008 (Khi phạm tội 16 tuổi 6 tháng 20 ngày) tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu K, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh (Trường THPT T5, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh); Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quang T1 và bà: Nguyễn Thị H. Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 29/12/2024 đến ngày 03/01/2025 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú và T2 hoãn xuất cảnh. Đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 03/01/2025 đến ngày 03/4/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Q. Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quang T: Bà Nguyễn Thị H (Là mẹ đẻ), sinh năm 1986. Nơi thường trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang T: Bà Dương Thị H1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q. Địa chỉ: tầng D, trụ sở liên cơ quan số C, phường H, thành phố H, Quảng Ninh; Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Quốc C1, sinh năm 2001. Nơi thường trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
  2. Anh Đinh Văn Q, sinh năm 1995. Nơi thường trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.

* Người chứng kiến:

  1. Ông Đỗ Văn D, sinh năm 1974. Nơi thường trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.
  2. Bà Vũ Thị T3, sinh năm 1967. Nơi thường trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mục đích sản xuất pháo nổ để bán kiếm lời trong dịp Tết Nguyên Đán, nên ngày 15/11/2024 Nguyễn Quang T đặt mua chất Kali Clorat, lưu huỳnh, N, bột nhôm, bột than củi, giấy đỏ trên mạng xã hội và ra chợ mua thêm keo dán, màng bọc thực phẩm để sản xuất pháo nổ. Đến ngày 19/11/2024 khi đã có đầy đủ nguyên liệu và dụng cụ cần thiết, Tấn cuộn bìa vở học sinh thành hình trụ tròn kích thước (25x1,5)cm làm cây cuộn pháo, sau đó cuộn giấy đỏ thành các hình trụ tròn rồi dùng keo dán thêm lớp giấy đỏ bên ngoài và bịt kín một đầu để làm thành vỏ pháo có chiều dài và đường kính là (5,1 x 2,5)cm và (21 x 6,5)cm. Tấn trộn các chất Kali Clorat, lưu huỳnh, N, bột nhôm, bột than củi theo tỉ lệ với nhau để làm thuốc pháo và chất dẫn cháy rồi cho thuốc pháo vào các vỏ pháo đã cuộn trước đó, cho chất dẫn cháy đã pha chế vào màng nilon rồi se lại thành các đoạn nhỏ dài làm dây dẫn nổ. Tấn cắt dây dẫn nổ thành các đoạn ngắn gắn vào đầu còn lại của vỏ pháo đã được nhồi thuốc pháo, bịt chặt vỏ pháo bằng keo 502 thành 01 quả pháo nổ, tiếp đó T dùng các dây dẫn nổ dài để kết các quả pháo nổ lại với nhau thành tràng pháo nổ để bán kiếm lời. T đã bán pháo nổ cho Phạm Quốc C1, Đinh Văn Q, cụ thể:

  • Bán pháo nổ cho Phạm Quốc C1: Tối ngày 04/12/2024 C1 gọi điện hỏi mua của T 5,5m pháo nổ, T đồng ý báo giá 600.000 đồng/m, khi nào làm xong sẽ giao pháo cho C1. Đến ngày 05/12/2024, C1 tiếp tục đặt mua thêm của T 02m pháo nổ. Sau khi sản xuất xong pháo nổ, vào các ngày 07, 21, 23/12/2024, T mang tổng cộng 07 tràng pháo nổ (mỗi tràng dài 01m) và 01 tràng pháo nổ dài 50cm đến khu B, phường Đ, thị xã Q bán cho C1, C1 đã chuyển khoản cho T tổng số tiền 4.500.000 đồng.
  • Bán pháo nổ cho Đinh Văn Q: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 06/12/2024 Q gọi điện hỏi mua của T 03m pháo nổ, T đồng ý báo giá 550.000 đồng/m. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày T mang 03 tràng pháo nổ (mỗi tràng dài 01m) đến nhà Q ở khu B, phường Đ, thị xã Q bán cho Q với giá 1.650.000 đồng. Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 21/12/2024 Q tiếp tục đặt mua của T 02m pháo nổ, đến khoảng 20 giờ cùng ngày T mang 02 tràng pháo nổ (mỗi tràng dài 01m) đến nhà Q bán cho Q giá 1.100.000 đồng.

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý - Kinh tế, Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường Đ, thị xã Q kiểm tra hành chính nhà Nguyễn Quang T tại khu B, phường Đ, thị xã Q, thu giữ:

  • + Tại phòng ngủ thu: 01 tràng dài khoảng 98 cm, được kết bằng 71 vật thể hình trụ tròn màu đỏ, một đầu có dây dẫn, đầu còn lại được bịt kín, KT từng vật thể dài khoảng 5,1cm, đường kính khoảng 2,5cm và 69 vật thể hình trụ tròn màu đỏ, một đầu có dây dẫn, đầu còn lại được bịt kín, KT từng vật thể dài khoảng 5,1 cm, đường kính khoảng 2,5cm (Kí hiệu M1 nghi là pháo nổ); 01 bát nhựa bên trong đều chứa chất bột màu vàng nhạt (Kí hiệu M2 nghi là thuốc pháo nổ), 01 hộp nhựa và 01 chiếc cốc sứ bên trong chứa chất bột màu đen (Kí hiệu M3, M4 nghi là thuốc pháo nổ); 07 đoạn dây dẫn được quấn bằng màng nilon bên trong chứa chất bột màu đen (Kí hiệu M5 nghi là dây dẫn nổ); 03 vật thể hình trụ tròn màu đỏ, KT từng vật thể dài khoảng 21 cm, đường kính khoảng 6,5 cm (nghi là vỏ pháo nổ); 01 tập giấy A4 màu đỏ; 01 cuộn màng túi nilon màu trắng; 01 cuộn giấy màu đỏ một đầu được bịt màn màu đỏ; 01 cuộn giấy bằng bìa vở học sinh được cuộn thành hình trụ tròn KT (25 x 1,5)cm; 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 chiếc kìm bằng kim loại; 01 chiếc tô vít bằng kim loại; 02 lọ keo 502.
  • + Tại phòng trên tầng hai thu: 07 tập giấy gồm nhiều tờ giấy màu đỏ KT (60 x 5,1)cm; 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng (Kí hiệu M6); 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu vàng (Kí hiệu M7); 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu bạc (Kí hiệu M8); 01 túi nilon màu đen loại có quai xách bên trong chứa chất bột màu đen (Kí hiệu M9); 01 túi nilon màu trắng loại có quai xách bên trong chứa chất bột màu trắng (Kí hiệu M10).
  • + T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng gắn sim 0388.391.121 (đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H).

- Vật chứng do Phạm Quốc C1 tự nguyện giao nộp: 01 tràng dài khoảng 90 cm, được kết nối với nhau bằng 62 vật thể hình trụ tròn màu đỏ, một đầu có dây dẫn, đầu còn lại được bịt kín, KT từng vật thể dài khoảng 5,1cm, đường kính khoảng 2,5cm (Kí hiệu M11).

- Vật chứng do Đinh Văn Q tự nguyện giao nộp: 01 tràng dài khoảng 90cm, được kết nối với nhau bằng 60 vật thể hình trụ tròn màu đỏ, một đầu có dây dẫn, đầu còn lại được bịt kín; KT từng vật thể dài khoảng 5,1cm, đường kính khoảng 2,5cm (Kí hiệu M12);

- Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/12/2024 thể hiện: hiện trường xảy ra vụ việc bán pháo nổ cho Nguyễn Quốc C2 được xác định là đoạn đường đầu ngõ F, phố N thuộc khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Hiện trường xảy ra vụ việc bán pháo nổ cho Đinh Văn Q được xác định là khu vực vỉa hè gần nhà số A tại đoạn đường thuộc khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Kết luận giám định số 3934/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng K Công an thành phố H:

  • + Các vật hình trụ tròn, có cùng đặc điểm cấu tạo, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu gắn sợi dây dẫn cháy thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Quang T (M1) và do Phạm Quốc C1 (M11), Đinh Văn Q (M12) giao nộp đều là pháo nổ, khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, đối với những vật liên kết thành tràng thì nổ liên tiếp, có khối lượng lần lượt là 3,135kg; 1,425kg và 2,8kg. Tổng khối lượng pháo nổ thu giữ là 7,36kg.
  • + Chất bột màu vàng nhạt (M2) trong 01 bát nhựa, chất bột màu đen (M3, M4) trong 01 hộp nhựa và trong 01 chiếc cốc sứ đều chứa thuốc pháo nổ (tổng khối lượng thuốc pháo nổ là 0,215kg); chất bột màu đen (M5) được quấn bằng màng nilon là ngòi pháo có tổng độ dài là 2,35m, tổng khối lượng là 0,02kg; chất bột màu trắng (M6) là Kali Clorat có khối lượng 0,51kg; chất bột màu vàng (M7) là Lưu huỳnh có khối lượng 0,46kg; chất bột màu bạc (M8) là bột Nhôm có khối lượng 0,47kg; chất bột màu đen (M9) là C3 có khối lượng 0,275kg; chất bột màu trắng (M10) là Natri Benzoat có khối lượng 0,11kg.

Công văn số 08/CV-PC09 (Đ2) ngày 12/02/2025 của Phòng K Công an thành phố H: Chất bột của mẫu M2, M3, M4 là thuốc pháo nổ; mẫu M5 là ngòi pháo (dây dẫn cháy), đều không thuộc nhóm vật liệu nổ.

Cáo trạng số 1478/CT-VKSQY ngày 21/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; các Điều 119, 124, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên: xử phạt Nguyễn Quang T từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang T đều xác nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên và thừa nhận: Các đồ vật thu giữ tại nơi ở của T là pháo nổ T đã sản xuất mục đích bán lại cho người khác và nguyên vật liệu, công cụ T sử dụng để sản xuất pháo nổ. T thừa nhận 03 tràng pháo nổ các anh Phạm Quốc C1, Đinh Văn Q giao nộp tại Cơ quan điều tra là số pháo nổ T đã bán cho C1, Q trước đó. Còn chiếc điện thoại Iphone Xs Max bị thu giữ là của bà Nguyễn Thị H (mẹ T), T không nói cho bà H mượn điện thoại để liên lạc buôn bán pháo nổ. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội không oan sai. Quá trình đưa vụ án ra xét xử, bị cáo tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 7.250.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quang T - bà Nguyễn Thị H khai: Bà H không biết việc bị cáo T có hành vi sản xuất và buôn bán trái phép pháo nổ; bị cáo vi phạm pháp luật nhưng do chưa thành niên nên nhận thức chưa đầy đủ. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục được học tập và hoàn thành kết quả học tập tại trường. Chiếc điện thoại di động Iphone bị thu giữ là của bà, bà không biết bị cáo sử dụng để liên lạc bán pháo nổ, bà đã được nhận lại và không có đề nghị nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Đinh Văn Q khai: anh Q 02 lần (ngày 06 và 21/12/2024) gọi điện cho T để mua pháo nổ. Lần thứ nhất, anh mua 03 tràng với giá 550.000 đồng/1 tràng và lần thứ hai, mua 02 tràng với giá 550.000 đồng/tràng. Tổng số tiền mua pháo là 2.750.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Phạm Quốc C1 khai: anh C1 đặt mua pháo nổ của T các lần như sau: Ngày 04/12/2024, đặt mua 5,5m pháo nổ giá 3.300.000 đồng (tương ứng 600.000 đồng/1m; Ngày 05/12/2024, đặt mua 02m pháo nổ giá 1.200.000 đồng; Ngày 23/12/2024, anh đã nhận đủ số pháo đặt từ T và đã chuyển trả tiền cho T bằng hình thức chuyển khoản.

Người chứng kiến ông Đỗ Văn D và bà Vũ Thị T3 khai: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, lực lượng Công an mời ông D, bà T3 vào chứng kiến quá trình kiểm tra hành chính nhà Nguyễn Quang T, ông D, bà T3 nhìn thấy lực lượng công an thu giữ vật chứng.

Phần tranh luận: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Đồng tình với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà; Bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật và nhận thức xã hội còn hạn chế. Bị cáo rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện giao nộp toàn bộ tiền thu lợi bất chính. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Quang T rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo tiếp tục được học tập, rèn luyện trở thành người tốt, có ích cho gia đình, nhà trường và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quang T phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với Quyết định trưng cầu giám định; Kết luận giám định; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh vật chứng; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh khám nghiệm hiện trường...

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 19/11/2024 đến ngày 28/12/2024 tại khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Quang T có hành vi sản xuất pháo nổ và 02 lần bán nổ cho Phạm Quốc C1 và Đinh Văn Q với tổng số tiền 7.250.000 đồng, thì bị Công an thị xã Q phát hiện, thu giữ 7,36 kg pháo nổ. Ngoài ra, Nguyễn Quang T còn tàng trữ. 0,215kg thuốc pháo nổ; 0,02kg dây dẫn (ngòi pháo); 0,51 kg Natri Clorat; 0,46 kg lưu huỳnh; 0,47 kg bột nhôm; 0,275 kg Carbon và 0,11 kg N1 để sản xuất pháo nổ.

Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự:

“Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...

...

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

[3] Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi thủ công để làm ra pháo nổ mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành và buôn bán của bị cáo Nguyễn Quang T là vi phạm pháp luật, xâm phạm tới trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm; gây ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân địa bàn phường nói riêng và thị xã Q nói chung. Do đó, cần xử lý đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Quang T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội khi đủ 16 tuổi dưới 18 tuổi, do đó áp dụng Luật tư pháp người chưa thành niên để xét xử đổi với bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đang là học sinh, phạm tội lần đầu. Việc xét xử bị cáo nhằm mục đích giúp đỡ, giáo dục pháp luật nhằm trở thành công dân có ích; nên không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục học tập với mức án đầu khung hình phạt thể hiện khoan hồng của pháp luật.

Đối với Phạm Quốc C1, Đinh Văn Q sau khi mua pháo nổ của Nguyễn Quang T đã sử dụng một phần, phần còn lại đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra nên không xác định được tổng khối lượng pháo nổ C1, Q đã tàng trữ, Công an thị xã Q đã xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.

Bà Phạm Thị H2 không biết việc T sản xuất pháo nổ tại nơi ở của mình và không biết việc T mượn điện thoại để liên lạc bán phảo nổ, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên và người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng điều luật và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[5] Về vật chứng và tiền thu lợi bất chính: Số tiền 7.250.000 đồng bị cáo bán trái phép pháo nổ cho anh Đinh Văn Q và Phạm Quốc C1 là tiền thu lợi bất chính, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; bị cáo đã tự nguyện nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Q.

Vật chứng: Số pháo nổ, thuốc pháo nổ, ngòi pháo, các chất Kali Clorat, lưu huỳnh, bột nhôm, C3, Natri B hoàn lại sau giám định, Công an thị xã Q đã tiêu hủy theo quy định, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng gắn sim 0388.391.121 đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với các vật chứng khác: 01 bát nhựa; 01 hộp nhựa; 01 chiếc cốc sứ; 03 vỏ pháo có KT (21 x 6,5)cm; 01 tập giấy A4 màu đỏ; 01 cuộn màng túi nilon; 01 cuộn giấy màu đỏ một đầu được bịt màn màu đỏ; 01 cuộn giấy bằng bìa vở học sinh được cuộn thành hình trụ tròn KT (25 x 1,5)cm; 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 chiếc kìm bằng kim loại; 01 chiếc tô vít bằng kim loại; 02 lọ keo 502; 07 tập giấy gồm nhiều tờ giấy màu đỏ KT (60 x 5,1)cm là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc làm công việc nhất định nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, hiện bị cáo là học sinh PTTH nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về án phí: bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 119, Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên

Tuyên bố: Nguyễn Quang T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt: Nguyễn Quang T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Quang T cho Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Quang T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh phối hợp giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • Tịch thu của bị cáo Nguyễn Quang T 7.250.000 đồng sung quỹ Nhà nước (Bị cáo đã nộp đủ theo Biên lai thu tiên số 0003215 ngày 28/02/2025 của chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 bát nhựa, 01 hộp nhựa, 01 chiếc cốc sứ, 03 vỏ pháo có KT (21 x 6,5)cm, 01 tập giấy A4 màu đỏ, 01 cuộn màng túi nilon, 01 cuộn giấy màu đỏ một đầu được bịt màn màu đỏ, 01 cuộn giấy bằng bìa vở học sinh được cuộn thành hình trụ tròn KT (25 x 1,5)cm, 01 chiếc kéo bằng kim loại, 01 chiếc kìm bằng kim loại, 01 chiếc tô vít bằng kim loại, 02 lọ keo 502, 07 tập giấy gồm nhiều tờ giấy màu đỏ KT (60 x 5,1)cm (Tình trạng tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên).

* Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 21/LC-ĐKNCT ngày 03/01/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 34/QĐ-THXC ngày 03/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã Q đối với bị cáo Nguyễn Quang T.

Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Quang T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã nộp đủ 200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003216 ngày 28/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo, báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS, THADS Tx Quảng Yên;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo,
  • người bào chữa cho bị cáo;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp Quảng Ninh;
  • - Cục QLXNC - Bộ Công an;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang T phạm tội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger