Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀ TRUNG

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 26-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Cao Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Thân;

2. Ông Nguyễn Ngọc Chung.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lưu Thiện T

- sinh ngày: 01/6/1989, tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Thiện T1, sinh năm: 1963; con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1964; có vợ là: Trịnh Tiến H, sinh năm: 1994; chưa có con;

Tiền án: Tại Bản án số 08/2018/HS-ST ngày 29/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 20/6/2022;

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Tại Bản án số 11/2007/HSST ngày 25/10/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Tại Bản án số 10/2009/HSST ngày 26/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 48 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, tổng hợp với 12 tháng tù của Bản án số 11/2007/HSST ngày 25/10/2007 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, hình phạt chung của hai bản án là 60 tháng tù, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 14/9/2012;
  • - Tại Bản án số 14/2014/HSST ngày 27/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 22/10/2016.
  • - Ngày 19/6/2017, bị Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền;
  • - Ngày 10/10/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định khởi tố bị can số 199/QĐ-ĐTTH về tội “Cố ý gây thương tích” đối với hành vi cố ý gây thương tích xảy ra ngày 13/5/2024 tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/10/2024 đến ngày 20/10/2024, tạm giam từ ngày 20/10/2024 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H - Trại Tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Người làm chứng:

  • + Anh Trịnh Đình C - sinh năm: 1978; nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt);
  • + Anh Trịnh Văn T2 - sinh năm: 1989; nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt);

Người chứng kiến: Ông Ngô Văn B - sinh năm: 1960; nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 14/10/2024, Tổ công tác đội CSĐT về HS-KT-MT Công an huyện H phối hợp với Công an xã L tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên tuyến Tỉnh lộ 508, thuộc địa phận thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, thì phát hiện Lưu Thiện T (sinh năm 1989, trú tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) đang điều khiển xe mô tô không mang BKS chạy vào cây xăng xã L để đổ xăng, có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong túi áo khoác phía trước bên trái đối tượng đang mặc có 01 túi nilong màu trắng, mép túi có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục nghi là ma túy. Trình bày với lực lượng Công an, T khai nhận bên trong túi nilong màu trắng nêu trên là ma túy loại Heroine của mình vừa mua được từ một người đàn ông không quen biết tại khu vực xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình để mang về sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành niêm phong tang vật để giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tang vật, tài sản thu giữ:

  • - 01 (một) túi nilong màu trắng, viền mép túi màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục nghi là ma túy;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu xanh, số IMEI1: 865005053652098, IMEI2: 865005053652106, gắn sim số thuê bao 0347.518.178 và 0971.814.410, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) xe mô tô không mang biển kiểm soát, số máy: 150FM00060211, số khung: LXDXCHL08Y8065521, xe đã qua sử dụng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Thiện T tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa nhưng không phát hiện, thu giữ gì thêm.

* Kết quả trưng cầu giám định chất ma túy:

Tại Bản kết luận giám định số 3916/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong mặt trước ghi “Vụ Lưu Thiện T” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,194g (ba phẩy một chín tư gam) loại: Heroine.

Quá trình điều tra, Lưu Thiện T khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/10/2024, Lưu Thiện T đến nhà một người bạn là chị Phạm Quỳnh H1 (sinh năm 2006, trú tại Tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) mượn xe để đi có việc thì chị H1 đồng ý rồi cho T mượn xe máy không gắn biển kiểm soát. Mượn được xe, T điều khiển xe đi đến huyện K, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đi đến địa phận xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình, T gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm đang đứng bên đường, T hỏi và nhờ người này mua giúp 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) ma túy loại Heroin thì người này đồng ý. T đưa tiền và đứng đợi khoảng 15 phút, người đàn ông quay lại đưa cho T 01 túi nilong màu trắng, mép túi có viền đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục là ma túy Heroin. Sau đó, T cất túi ma túy vào trong túi áo khoác phía trước bên trái rồi điều khiển xe máy quay về. Khi đi đến cây xăng xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, T dừng lại để đổ xăng thì bị kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.

Ngoài hành vi nêu trên, Lưu Thiện T còn tự thú, khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình cho Trịnh Đình C (sinh năm 1978, trú tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) và Trịnh Văn T2 (sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa), cụ thể như sau:

Cũng với hình thức tương tự như trên, ngày 09/10/2024, Lưu Thiện T đi đến địa phận xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình nhờ người đàn ông làm nghề xe ôm mua hộ 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroin mang về để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời.

Vào chiều ngày 10/10/2024, Trịnh Đình C sử dụng số điện thoại 0962.886.xxx gọi đến số điện thoại 0971.814.xxx của T hỏi mua 01 (một) gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). T đồng ý và hẹn gặp nhau giao dịch tại khu vực cánh đồng giáp xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi đến điểm hẹn, T đưa gói ma túy bên ngoài bọc bằng giấy trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục (ma túy loại Heroin) cho C, C đưa tiền cho T rồi cả hai đi về.

Vào các ngày 09/10/2024 và 12/10/2024, Trịnh Văn T2 sử dụng số điện thoại 0397.379.xxx gọi đến số điện thoại 0971.814.xxx của T hỏi mua ma túy, mỗi lần mua 01 (một) gói ma túy Heroin với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). T đồng ý và hẹn gặp nhau giao dịch tại khu vực Cầu K, thuộc địa phận xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi đến điểm hẹn, T đưa gói ma túy bên ngoài bọc bằng giấy trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục (ma túy loại Heroin) cho T2, T2 đưa tiền cho T rồi cả hai đi về.

Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập, làm việc với Trịnh Đình C và Trịnh Văn T2. Tại Cơ quan điều tra, C và T2 khai báo nội dung trùng khớp như Lưu Thiện T đã trình bày. Sau khi mua được ma túy từ T, C và T2 đã sử dụng hết cho bản thân. Do đó, Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được số ma túy này. Tiến hành test ma túy tổng hợp (4 chân), kết quả thể hiện Trịnh Đình C và Trịnh Văn T2 đều dương tính với MOP (Heroine/Morphine).

* Về việc tạm giữ, xử lý tài sản, đồ vật, vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô không mang biển kiểm soát, số máy: 150FM00060211, số khung: LXDXCHL08Y8065521, xe đã qua sử dụng. Ngày 23/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Quỳnh H1.
  • - Các vật chứng còn lại đã được chuyển sang Chi cục THA dân sự huyện H để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật, bao gồm:
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu xanh, số IMEI1: 865005053652098, IMEI2: 865005053652106, gắn sim số thuê bao 0347.518.178 và 0971.814.410, máy cũ đã qua sử dụng;
    • + Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 2,999g (hai phẩy chín chín chín gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong.

Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKSHT ngày 19/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lưu Thiện T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Thiện T giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lưu Thiện T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • - Căn cứ vào điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Thiện T từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024;
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
  • - Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu xanh, số IMEI1: 865005053652098, IMEI2: 865005053652106, gắn sim số thuê bao 0347.518.178 và 0971.814.410, máy cũ đã qua sử dụng;
    • + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 2,999g (hai phẩy chín chín chín gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong;
    • + Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
  • - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo thống nhất với luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng sự khoan hồng với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 14/10/2024, gần khu vực cây xăng xã L thuộc thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác đội CSĐT về HS-KT-MT Công an huyện H phối hợp với Công an xã L tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lưu Thiện T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 3,194g (ba phẩy một chín tư gam) loại: Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.

Ngoài hành vi đã bị bắt quả tang vào ngày 14/10/2024 nêu trên, Lưu Thiện T đã thực hiện 03 lần bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng khác trên địa bàn huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể như sau:

  • - Vào các ngày 09/10/2024 và 12/10/2024, tại khu vực Cầu K, thuộc địa phận xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Lưu Thiện T đã bán trái phép chất ma túy cho Trịnh Văn T2 02 lần, mỗi lần 01 (một) gói ma túy Heroin với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), hưởng lợi bất chính tổng số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng);
  • - Chiều ngày 10/10/2024, tại khu vực cánh đồng giáp xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Lưu Thiện T đã bán trái phép 01 (một) gói ma túy, loại Heroin cho Trịnh Đình C, hưởng lợi bất chính số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Sau khi mua được ma túy từ T, T2 và C đã sử dụng hết cho bản thân nên Cơ quan CSĐT không tiến hành thu giữ được số ma túy đó.

Trong vụ án này, bị cáo Lưu Thiện T thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”. Mặt khác, bị cáo có 01 tiền án, bị xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 08/2018/HS-ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 20/6/2022, chưa được xóa án tích. Như vậy, bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.

Do đó, hành vi của bị cáo Lưu Thiện T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, có tính chất rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Lưu Thiện T có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không có tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã ba lần bị kết án về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản”; một lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi bị bắt quả tang về hành vi phạm tội vào ngày 14/10/2024, bị cáo đã tự thú, khai báo về hành vi phạm tội của bản thân vào các ngày 09, 10 và 12/10/2024; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô không mang biển kiểm soát, số máy: 150FM00060211, số khung: LXDXCHL08Y8065521, xe đã qua sử dụng, là phương tiện bị cáo sử dụng để đi mua ma túy vào ngày 14/10/2024: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe này là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Phạm Quỳnh H1 (sinh năm 2006, trú tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 14/10/2024, bị cáo đã mượn chiếc xe này của chị H1 nhưng chị H1 không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên chị H1 không có lỗi. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý, trả lại cho chủ sở hữu là chị Phạm Quỳnh H1 vào ngày 23/01/2025. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu xanh, số IMEI1: 865005053652098, IMEI2: 865005053652106, gắn sim số thuê bao 0347.518.178 và 0971.814.410, máy cũ đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo, được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 2,999g (hai phẩy chín chín chín gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có, cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo đã mua nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời, bị cáo khai báo có được do mua của một người đàn ông trung niên, làm nghề xe ôm tại khu vực xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Người này có đặc điểm cao khoảng 1m60, dáng người nhỏ gầy, mặt nhọn, cắt tóc kiểu chân phương, da ngăm đen. Bị cáo không có thông tin lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này. Việc mua bán ma túy không có ai hết chứng kiến. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành phối hợp với Công an xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình để rà soát nhưng không xác định được đối tượng nào nghi vấn có đặc điểm nhận dạng như nội dung khai báo của bị cáo. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Trịnh Đình C và anh Trịnh Văn T2, là những người đã mua ma túy của bị cáo vào các ngày 09, 10 và 12/10/2024. Sau khi mua được ma túy, anh C và anh T2 đã sử dụng hết cho bản thân nên Cơ quan điều tra không thu giữ và xác định được khối lượng chất ma túy. Kết quả test ma túy tổng hợp (4 chân) ngày 14/10/2024 thể hiện Trịnh Đình C và Trịnh Văn T2 đều dương tính với MOP (Heroine/Morphine). Do đó, Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ đề nghị và Trưởng Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh C, anh T2 là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm b, q khoản 2 Điều 251; Điều 50; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

* Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thiện T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt: Bị cáo Lưu Thiện T 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.

* Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu xanh, số IMEI1: 865005053652098, IMEI2: 865005053652106, gắn sim số thuê bao 0347.518.178 và 0971.814.410, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 2,999g (hai phẩy chín chín chín gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/02/2025 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung).

  • - Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) của bị cáo Lưu Thiện T.

* Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Lưu Thiện T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Hà Trung;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Hà Trung;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Cao Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lưu Thiện T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger