Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 7 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Hồng.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh - Bà Trần Hồng Vân.

  • Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ái Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 7 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn G; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1984, tại: Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: 7 L, phường T, quận B, thành phố C; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Hoàn cảnh gia đình: Con ông Hà Văn N, sinh năm 1956; Con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; Anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là người thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 14/2018/HS-PT ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân nhân huyện B, thành phố C tuyên phạt Hà Văn G nộp phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành án phí HSST và nộp phạt xong và Bản án số 124/2019/HS-PT ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân nhân thành phố Cần Thơ tuyên phạt Hà Văn G 06 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”. Chấp hành án phí HSST và HSPT 400.000 đồng xong, chấp hành án phạt tù xong ngày 02/6/2020; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn G là Luật sư Nguyễn Trường S – Luật sư của Văn phòng L - Thuộc đoàn luật sư thành phố C (có mặt).

Bị hại: Phan Nguyễn Kiều V, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Số A, ấp Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

Người làm chứng: Trần Thanh T1, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Số A, khóm A, phường C, thành phố S, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2016, Phan Nguyễn Kiều V học tại Trường cao đẳng kinh tế đối ngoại thành phố C có tình cảm và sống như vợ chồng với Hà Văn G tại nhà trọ ở thành phố Cần Thơ, đến tháng 4/2024 chị V biết G đã có vợ ở Thanh Hóa nên không còn sống chung với G. Chị V chuẩn bị kết hôn với anh Trần Thanh T1 thì khoảng đầu tháng 7/2024 có một tài khoản Facebook tên “Nguyễn H” kết bạn với tài khoản Facebook của chồng chị V tên “Tuấn T2” và nhắn tin kể về sự việc trước đây chị V có quen và sống chung như vợ chồng với G tại Cần Thơ.

Đến ngày 06/7/2024 có tài khoản Zalo tên “Angela Hạnh” (không rõ số điện thoại đăng ký) gửi tin nhắn nhiều hình ảnh nhạy cảm của chị V qua tài khoản Zalo của chồng chị V và tài khoản gmail tên "havangiap1984ct@gmail.com” gửi tin nhắn chứa nhiều hình ảnh nhạy cảm của chị V qua iMessage vào số điện thoại 0918.365.xxx của ông Trần Thanh H1 (cha chồng chị V).

Sau đó, có nhiều tài khoản Zalo lạ (03 tài khoản) và một tài khoản Facebook tên “Trinh P" cách vài ngày lại tiếp tục gửi nhiều hình ảnh nhạy cảm của chị V vào tài khoản Z, Facebook của chồng và cha chồng chị V, chị V đến Cơ quan Công an tố giác hành vi của G.

Quá trình điều tra xác định Hà Văn G khai nhận do V chủ động chia tay nên để níu kéo tình cảm của V, G dùng 02 điện thoại di động của G để gửi hình cho chồng và cha chồng của V qua tài khoản Facebook và Z nhằm mục đích làm cho V không lấy chồng. Ngoài ra G còn khai nhận có sử dụng tài khoản ứng dụng Facebook “H”, “Trinh Phạm”, “Phạm Thúy” và tài khoản ứng dụng Zalo là “Hà Văn G”, “Hoan Trần”, “Angela Hạnh”, “Nguyễn H” đăng và gửi hình ảnh trên cho khoảng 07 tài khoản khác nhau trên các ứng dụng nói trên và có gửi qua hội nhóm “Tôi Người Sa Đéc” trên ứng dụng Facebook.

Kết luận giám định của Sở V1 ngày 26/12/2024 kết luận: Nội dung và dung lượng video của 01 USB được đưa giám định không có nội dung khiêu dâm, đồi trụy, đây là đoạn video ngắn có hình 01 phụ nữ mặc quần sọt, ngực trần đang xem điện thoại, không có bất cứ hành động gì khiêu dâm hay kích dục. Thời lượng 00 giờ 00 phút 06 giây, dung lượng 762 Byte.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh ngọc và 01 điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng, đều đã qua sử dụng của Hà Văn G.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSTPSĐ ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Hà Văn G về tội “Làm nhục người khác” theo điểm e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 155, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn G về tội “Làm nhục người khác” với mức án từ 3 – 6 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh ngọc và 01 điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng đã qua sử dụng của Hà Văn G, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh như Cáo trạng truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ hình phạt như: Bị cáo nhận lỗi sai trái nên tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có thành tích xuất sắc khi tham gia bộ đội; Gia đình bị cáo có công cách mạng; Bị cáo là lao động chính, gia đình kinh tế khó khăn, nuôi 03 con nhỏ, cha mẹ bệnh; Bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự và xin cho bị cáo hưởng án treo vì hành vi của bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm b, s, v, khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt dưới mức thấp của khung hình phạt theo quy định tại điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án treo hoặc cải tạo không giam giữ, tạo điều cho bị cáo chăm sóc gia đình, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, thống nhất lời bào chữa của Luật sư, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin được hưởng mức án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng, nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, bị hại, người làm chứng, tài liệu, đồ vật và vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng tháng 7/2024, Hà Văn G dùng 02 điện thoại di động sử dụng hình ảnh của Phan Nguyễn Kiều V gửi qua ứng dụng Facebook và Z cho anh T1 là chồng của V và ông H1 cha chồng của V, cùng nhiều người khác nhằm mục đích bôi nhọa danh dự để V không lấy chồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác” được quy định tại điểm e khoản 2 điều 155 Bộ luật hình sự.

Tại điều 155 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm: ...

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội".

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, không những gây mất an ninh trật tự ở địa phương, vi phạm pháp luật hình sự mà còn xâm hại trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của người khác, được pháp luật bảo vệ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có thành tích xuất sắc khi tham gia bộ đội; Gia đình bị cáo có công cách mạng; Bị cáo là lao động chính, gia đình kinh tế khó khăn, nuôi 03 con nhỏ, cha mẹ bệnh; Bị hại trình bày hành vi của bị cáo là nhất thời, thiếu suy nghĩ, nên xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đồng thời, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là đúng khung hình phạt đã truy tố; tuy nhiên xét thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải nuôi 03 con nhỏ, chăm sóc cha mẹ già; bị hại nhận thấy bị cáo đã biết lỗi, nên đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét có hình phạt nhẹ nhất để tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc gia đình. Do đó, nhằm thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người có tội, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn, hối hận, bị hại cũng đồng thời đề nghị có hình phạt nhẹ nhất đối với bị cáo, từ khi phạm tội đến nay bị cáo chấp hành tốt pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với cáo là cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, mà không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét bị cáo là lao động chính, có hoàn cảnh khó khăn, nuôi 03 con và cha mẹ già nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập của bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại 10.000.000đ, chị V đã nhận 10.000.000đ và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[7] Đối với hành vi của bị cáo G gửi cho nhiều người qua ứng dụng Zalo và Facebook hình ảnh của V nhưng Sở V1 xác định đây không phải là hình ảnh khiêu dâm, đồi trụy nên không xem xét xử lý G về hành vi “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” theo quy định tại Điều 326 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm e khoản 2 Điều 155; Điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 54 và điều 36 của Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn G phạm tội “Làm nhục người khác”.

    Xử phạt: Bị cáo Hà Văn G 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố C nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Hà Văn G cho Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố C giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Hà Văn G có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh ngọc và 01 điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng đã qua sử dụng của Hà Văn G, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội (do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý các vật chứng trên).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ Luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Hà Văn G nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh ĐT;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Cơ quan THAHS TP Sa Đéc;
  • - Cơ quan CSĐT TP Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP Sa Đéc;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VT, TP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm về tội làm nhục người khác

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Làm nhục người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2 năm cải tạo không giam giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger