Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương.
  • Các hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Mão và bà Quách Thị Thu Hương
  • Thư ký phiên tòa: ông Đinh Huy Hiệp - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Đỗ Anh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành K sinh năm 1990 tại tỉnh Thái Bình

Nơi cư trú: thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L và bà Hồ Thị M; có vợ Đỗ Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;

nhân thân: (1) Tại bản án số 38/2017/HSST ngày 29/06/2017 Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Thành K 09 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". (2) Tại bản án số 78/2018/HSST ngày 28/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Thành K 01 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". (3) Ngày 24/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hà Nam quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành K về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định khởi tố vụ án số 107/QĐ-ĐTTH và Quyết định khởi tố bị can số 224/QĐ-ĐTTH. (4) Ngày 13/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hà Nam quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành K về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định khởi tố vụ án số 109/QĐ-ĐTTH và Quyết định khởi tố bị can số 227/QĐ-ĐTTH. (5) Ngày 10/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành K về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định khởi tố vụ án số 67/QĐ-ĐTTH và Quyết định khởi tố bị can số 136/QĐ-ĐTTH; bị bắt tạm giữ ngày 25/10/2024 đến ngày 02/11/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.

  • - Bị hại: Ông Phạm Văn Đ sinh năm 1965; nơi cư trú: số nhà A, đường C, phố Y, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
  • · Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
    • + Chị Nguyễn Thị T sinh năm 1984; nơi cư trú: số G, ngõ A, phố H, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
    • + Chị Đỗ Thị N sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
    • + Anh Vũ Ngọc T1 sinh năm 1981; nơi cư trú: Khu C, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/10/2024, Nguyễn Thành K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không có biển kiểm soát (là xe của anh T1 cho K) đi từ Hà Nội về thành phố N, mục đích để trộm cắp tài sản. Khoảng 14 giờ 30 cùng ngày K đi đến cửa hàng điện nước dân dụng Y tại phố Y, phường N, thành phố H do ông Phạm Văn Đ làm chủ, K dừng xe tại vỉa hè phía trước cửa hàng sau đó vào trong cửa hàng, gặp ông Đ đang bán hàng. Khẩn hỏi: "Chú có bán dây điện không", ông Đ trả lời "Có". Khẩn yêu cầu lấy 200 mét dây 2,5; 400 mét dây 4,0; 200 mét dây 6,0; 4 hộp nối 16; 25 cái đế nổi. Khi K đọc thì ông Đ đi vào trong nhà lấy đồ. Sau đó, ông Đ mang ra 08 cuộn dây điện, mỗi cuộn dài 100 mét như K đã đọc và để dưới nền nhà gần quầy bán hàng. Khẩn tiếp tục hỏi mua thêm nắp bệt của bồn cầu, ông Đ vào lấy hàng, lợi dụng lúc ông Đ không để ý Khẩn lấy đi 06 trong số 08 cuộn dây ông Đ mang ra lúc trước để lên xe mô tô rồi tẩu thoát. Khi ông Đ lấy xong nắp bệt bồn cầu, đi ra để đưa cho K thì không thấy K đâu, đồng thời thấy 06 trong số 08 cuộn dây mang ra lúc trước bị mất. Sau khi trộm cắp tài sản, K điều khiển xe mô tô chở theo số tài sản trên đến đại lý S có địa chỉ tại số A, phố H, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội bán cho chủ cửa hàng là chị Nguyễn Thị T được số tiền 7.200.000 đồng. Khẩn đã lấy 200.000 đồng tiền mặt và K bảo chị T chuyển 7.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V số 0211000443627 mang tên Đỗ Thị N là vợ của K.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố N nay là thành phố H kết luận: Giá trị của tài sản bị trộm cắp gồm 04 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú, loại VCm - Đơn (1x4,0)mm² và 02 cuộn dây diện nhãn hiệu Trần Phú, loại VCm - Đơn (1x6,0)mm² (mỗi cuộn dây dài 100m) là 9.880.000 đồng. Như vậy, giá trị tài sản mà K đã trộm cắp của ông Đ là 9.880.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nay là thành phố H đã xử lý vật chứng, tài sản thu giữ như sau: Trả lại cho ông Phạm Văn Đ 06 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần P và trả lại chị Nguyễn Thị T số tiền 7.200.000 đồng; chuyển 08 cuộn dây điện Nguyễn Thành K trộm cắp được tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam vào ngày 24/10/2024 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hà Nam xử lý; chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không có biển kiểm soát, số khung: RLHHC09057Y429787, số máy: HC09E-5529181 để giải quyết cùng vụ án

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSNDTPHL ngày 08/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo Nguyễn Thành K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành K từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 25/10/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không có biển kiểm soát, số khung: RLHHC09057Y429787, số máy: HC09E-5529181
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo K đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo K đã khai nhận: Chiều ngày 23/10/2024, tại cửa hàng điện nước dân dụng Yến Đạo ở phường N, thành phố H bị cáo K đã trộm cắp 06 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú (TRAFUCO) của ông Phạm Văn Đ có giá trị là 9.880.000 đồng.

Trong quá trình điều tra bị hại ông Phạm Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T, chị Đỗ Thị N, anh Vũ Ngọc T1 đã khai báo các tình tiết trong vụ án liên quan đến ông Đ, chị T và chị N như nội dung vụ án đã nêu. Ông Đ đã nhận lại 06 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú (TRAFUCO) bị chiếm đoạt; chị N đã nộp số tiền 7.000.000 đồng chị T chuyển khoản, nộp thêm 200.000 đồng cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả do K gây ra và chị T đã nhận lại số tiền 7.200.000 đồng. Anh T1 xác định anh đã cho Nguyễn Thành K chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen mà K sử dụng đi trộm cắp tài sản ngày 23/10/2024. Ông Đ, chị T, chị N và anh T1 không có yêu cầu gì khác.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai tại phiên toà của bị cáo Nguyễn Thành K phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với bản ảnh xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Chiều ngày 23/10/2024, tại cửa hàng điện nước dân dụng Yến Đạo; địa chỉ: số nhà A, đường C, phố Y, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình Nguyễn Thành K có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt 06 cuộn dây điện nhãn hiệu Trần Phú (TRAFUCO) có giá trị 9.880.000 đồng của ông Phạm Văn Đ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

  1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

  • - Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo K sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo K đã 2 lần bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đảo tài sản ” đã được xóa án tích và đang bị khởi tố điều tra về hành vi “ Trộm cắp tài sản” thực hiện vào các ngày 13/10/2024, 18/10/2024 và ngày 24/10/2024 .

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; buộc phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung.

Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ...”. Bị cáo K không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[2] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Phạm Văn Đ 06 cuộn dây điện bị cáo K trộm cắp của ông Đ và trả lại cho chị T số tiền 7.200.000 đồng là tiền mua dây điện của bị cáo K do trộm cắp mà có là có căn cứ, đúng quy định.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không có biển kiểm soát, số khung: RLHHC09057Y429787, số máy: HC09E-5529181, đăng ký xe của chiếc xe trên mang tên anh Vũ Ngọc T1 sinh năm 1981, nơi thường trú: thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình (là chú họ bên vợ của K). Anh T1 đã cho K chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại. Anh T1 không biết và không được hưởng lợi gì từ việc K sử dụng chiếc xe mô tô trên để trộm cắp tài sản tại thành phố N nay là thành phố H vào ngày 23/10/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nay là thành phố H đã tra cứu và xác định chiếc xe mô tô trên không phải là vật chứng của vụ án/vụ việc nào. Do đó tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen nêu trên theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nay là thành phố H đã thu giữ được 08 cuộn dây điện do Công ty T2 sản xuất là tài sản bị cáo K trộm cắp tại huyện T, tỉnh Hà Nam vào ngày 24/10/2024. Cơ quan điều tra Công an thành phố N nay là thành phố H đã có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp nhận và xử lý 8 cuộn dây dây điện thu giữ của Nguyễn Thành K.

[3] Trách nhiệm dân sự: Ông Đ đã nhận lại 06 cuộn dây điện bị trộm cắp, chị T đã nhận lại số tiền 7.200.000 đồng và không có yêu cầu, đề nghị gì. Chị N không có yêu cầu, đề nghị gì về số tiền 7.200.000 đồng đã nộp và anh T1 không có yêu cầu, đề nghị gì về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen anh T1 đã cho bị cáo K. Do Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo K bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

[5] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N nay là thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Binh nay là thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 25/10/2024.

  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không có biển kiểm soát, số khung: RLHHC09057Y429787, số máy: HC09E-5529181.
  4. ( Vật chứng trên đã giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/01/2025 giữa Công an thành phố H, tỉnh Ninh Bình với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).

  5. Án phí: bị cáo Nguyễn Thành K nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
  6. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/02/2025); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Bị hại.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Hoa Lư
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA DS thành phố Hoa Lư;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS Công an thành phố Hoa Lư;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành K phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger