Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN


Bản án số:19/2025/HS - ST

Ngày: 20/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Quang Hợp.
  • 2. Ông Phạm Xuân Khoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST - HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: VŨ THANH Đ, sinh ngày 01/3/1979; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Vũ Đức Đ1 (Đã chết); Mẹ: Phan Thị T, sinh năm 1954. Vợ: Nông Thị Sắc S, sinh năm 1982. Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị bắt tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1983. Trú tại: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt tại phiên tòa);

* Người có QLNVLQ: chị Nông Thị Sắc S, sinh năm 1982. Trú tại: Tổ A, P T, TP T, tỉnh Thái Nguyên và chị Trần Thị Cẩm V, sinh năm 1985. Trú tại: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Đều vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thanh Đ, là người làm nghề lao động tự do. Đầu năm 2023, Đ làm việc tại Hà Nội và quen biết một người đàn ông tên Ma Khánh M sinh năm 1983, không rõ địa chỉ cụ thể. M giới thiệu với Đ, mình là chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần T1 có địa chỉ tại ngõ E, đường K, thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, công ty của M chuyên tư vấn du học và dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài. Đ hợp tác giới thiệu người đi xuất khẩu lao động qua công ty của M, mỗi trường hợp xuất khẩu lao động thành công, M trả công cho Đ số tiền 200 đô la Mỹ (tương ứng khoảng 5.000.000 đồng tiền Ngân hàng N). Tuy nhiên, Đ không ký kết hợp đồng hay thoả thuận gì với M về việc hợp tác đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài. Sau đó, Đ giới thiệu với bạn bè có khả năng đưa lao động đi xuất khẩu lao động (Theo Đ khai).

Đến đầu tháng 9 năm 2023, anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1983 có nhu cầu đi xuất khẩu lao động. Qua mối quan hệ bạn bè, Anh B1 đã liên lạc với Đ để nhờ Đ làm thủ tục cho anh B1 đi xuất khẩu lao động. Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh B1. Để anh B1 tin tưởng Đ có khả năng làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài và giao tiền cho Đ thì Đ2 thiệu bản thân đang làm việc cho cơ quan thuộc Bộ L với công việc là đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Anh B1 tin tưởng Đ nói là thật nên anh B1 nhờ Đ làm thủ tục cho anh B1 xuất khẩu lao động tại Canada. Qua tìm hiểu thông tin trên mạng internet, Đ đã thông báo với anh B1 chi phí để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Canada là 14.000 đô la Mỹ (khoảng 320.000.000 đồng tiền Ngân hàng N) và phải đặt cọc trước số tiền 70.500.000 đồng, thời gian làm thủ tục từ 2 đến 6 tháng. Số tiền còn lại, anh B1 phải thanh toán khi làm xong thủ tục rồi được xuất cảnh. Anh B1 đồng ý và hẹn Đ ngày 26/9/2023 đến nhà anh B1 tại xóm D, xã V để nhận tiên đặt cọc.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/9/2023, Đ điều khiển xe ô tô đến một cửa hàng tạp hoá tại thị trấn H, huyện Đ mua một quyển mẫu “Phiếu thu” (theo mẫu số C40-BB ban hành theo thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 24/11/2017 của Bộ T2) rồi mang đến nhà anh B1. Tại đây, Đ lấy một tờ “Phiếu thu” vừa mua ở cửa hàng tạp hoá rồi tự viết nội dung thể hiện việc anh Nguyễn Văn B nộp số tiền 70.500.000 đồng để đặt cọc đi lao động tại Canada, đơn vị lập phiều thu là “Bộ LĐTB&XH rồi Đ ký tên tại mục “người lập", anh B ký tên tại mục “người nộp", sau đó Đ giao tờ “Phiếu thu" cho anh B giữ. Anh B dùng tài khoản ngân hàng số “8505205255497" mở tại ngân hàng A của anh B chuyển khoản số tiền 70.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 39010000512757" mở tại ngân hàng B2 mang tên Vũ Thanh Đ của Đ rồi Đ ra về. Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh B, Đ đã tiêu dùng cá nhân hết.

Đến tháng 01/2024, anh B không thấy Đ thông báo lịch xuất cảnh như đã thoả thuận. Anh B gọi điện cho Đ thì Đ yêu cầu anh B chụp ảnh chân dung gửi qua ứng dụng Zalo cho Đ với lý do để hoàn thiện hồ sơ. Anh B thực hiện theo yêu cầu của Đ nhưng vẫn không được xuất cảnh đến khi anh B yêu cầu Đ trả lại số tiền 70.5000.000 đồng thì Đ lấy nhiều lý do không trả lại tiền cho anh B.

Nghi ngờ bị Đ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 12/11/2024 anh B đã làm đơn trình báo Công an xã V về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Vũ Thanh Đ. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã V đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Thanh Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về phần trách nhiệm dân sự: Ngày 20/11/2024, gia đình Vũ Thanh Đ đã tự nguyện bồi thường xong cho anh Nguyễn Văn B số tiền 70.500.000 đồng. Anh B đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 21/CT - VKSĐT ngày 22/01/2025, VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Vũ Thanh Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX. Tuyên bố: bị cáo Vũ Thanh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt: bị cáo Vũ Thanh Đ mức án từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Nói lời sau cùng: xin lỗi người bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Xét hành vi của bị cáo, thấy. Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thanh Đ khai nhận: Vũ Thanh Đ là lao động tự do, mặc dù không có khả năng làm các thủ tục theo quy định của pháp luật để đưa người đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài nhưng Đ đã đưa ra các thông tin sai sự thật là Đ đang làm việc cho cơ quan thuộc Bộ L có chức năng là đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để anh B tin tưởng và giao tiền cho Đ. Do không biết được mục đích của Đ, anh B tin tưởng là Đ nói thật, khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/9/2023, tại nhà của anh B thuộc xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, anh B đã chuyển khoản cho Đ số tiền 70.500.000 đồng qua tài khoản ngân hàng của Đ. Đ đã viết giấy biên nhận, sau đó về nhà và tiêu sài cá nhân hết.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố; phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập được có trong hồ sơ vụ án như đơn trình báo của bị hại, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.

[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo; cùng gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ được tặng Huân chương chiến sĩ hạng nhất và là thương binh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5]. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức về các việc làm đúng sai; bản thân là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng do ăn chơi đua đòi và coi thường phâp luật bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[6]. Về hình phạt chính: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy, Vũ Thanh Đ mặc dù phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng,. Tuy nhiên, sau khi vụ án được phát hiện, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phối hợp với gia đình khắc phục bồi thường đầy đủ cho người bị hại - Như vậy, thể hiện bị cáo tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Mặt khác, xét thấy hành vi của bị cáo có tính chất giản đơn, bản thân là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội. Khi quyết định hình phạt, HĐXX cần cân nhắc, xem xét đến tính chất của vụ án, hành vi của bị cáo và đối chiếu với các quy định của pháp luật để có mức hình phạt tù cho phù hợp vừa đảm bảo tính răn đe giáo dục, phòng ngừa chung vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7]. Về vật chứng của vụ án: Ban đầu cơ quan điều tra đã tạm giữ chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để giao dịch với anh B, sau đó đã trả lại cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo cho rằng chiếc điện thoại trên đã bị hỏng và bị mất nên không giao nộp được, vì vậy không có cơ sở để xem xét, xử lý. HĐXX cần kiến nghị yêu cầu cơ quan điều tra chịu trách nhiệm về nội dung trên

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung Ngân sách Nhà nước.

[9]. Các nội dung có liên quan khác:

Đối với việc bị cáo Đ khai quen biết người tên Ma Khánh M, là chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần T1 có địa chỉ tại Ngõ E, đường K, thôn T, xã T, huyện T, TP Hà Nội và M là người đề nghị bị cáo hợp tác giới thiệu người đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài. Quá trình điều tra xác định không có Công ty T1 tại địa chỉ ngõ E, đường K, thôn T, xã T, huyện T, TP Hà Nội và không có công dân tên Ma Khánh M, sinh năm 1983 cư trú tại địa bàn xã T, huyện T, TP Hà Nội. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.

Về việc bị cáo mua một quyển Phiếu thu của một cửa hàng tạp hoá không rõ địa chỉ cụ thể tại thị trấn H, huyện Đ. Do không rõ địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định người đã bán quyển Phiếu thu cho bị cáo. Đối với số phiếu thu còn lại, bị cáo xác định đã bị mất, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo nhưng không thu giữ được. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo VŨ THANH Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo VŨ THANH Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

* Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Vũ Thanh Đ và gia đình đã bồi thường xong cho anh Nguyễn Văn B số tiền 70.500.000 đồng.

* Về vật chứng vụ án: Kiến nghị cơ quan điều tra chịu trách nhiệm về việc không thu giữ chiếc điện thoại của bị cáoVũ T.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Thanh Đ phải chịu 200.000₫ án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS tỉnh; Sở tư pháp tỉnh;
  • - Công an, VKS huyện Đại Từ;
  • - THADS + THAHS Đại Từ;
  • - Bị cáo; Bị hại; người có QLNVLQ;
  • - UBND p Tân Thịnh;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiên

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ... giờ phút ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ GỒM CÓ:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn K;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân K1 và Nguyễn Quang H.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với: Vũ Thanh Đ, sinh năm 1979.

Căn cứ điều 299 và điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XET XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Những chứng cư, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp:

Biểu quyết 3/3.

2. Về tội danh: Bị cáo Vũ Thanh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Biểu quyết 3/3.

3. Về điều luật áp dụng + hình phạt:

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo VŨ THANH Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

Biểu quyết 3/3.

4. Các vấn đề có liên quan khác:

* Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Vũ Thanh Đ và gia đình đã bồi thường xong cho anh Nguyễn Văn B số tiền 70.500.000 đồng.

* Về vật chứng vụ án: Kiến nghị cơ quan điều tra chịu trách nhiệm về việc không thu giữ chiếc điện thoại của bị cáoVũ T.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST sung quỹ Nhà nước.

* Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật:

Biểu quyết 3/3.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn K

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS - ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thành Đ - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger