Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 19/2025/HS - ST

Ngày 19/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông

Bà Nguyễn Thị Thu Ba.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST- HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn K, sinh ngày 02/5/2005 tại P - Kiên Giang (giới tính nam).

Nơi cư trú: Tổ D, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nơi ở hiện tại: Tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang); Số CMND/CCCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 13/5/2021 tại Cục C về TTXH; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Trần Hồng N, sinh năm: 1983 và bà Danh L, sinh năm: 1983; Anh chị em: 01 người sinh năm 2008; Vợ, con: Không. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/10/2024 đến ngày 25/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 07 giờ ngày 16/10/2024, do cần mua ma túy để sử dụng nên Trần Văn K dùng điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh của K gọi cho một người tên Đ (Chưa xác định nhân thân lai lịch) để hỏi mua 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) ma túy đá, Đ đồng ý và hẹn giao dịch việc mua bán ma túy tại phòng trọ của K.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Đ mang 01 (một) bịch ma túy đá và một đoạn ống nhựa bên trong có ma túy đá đến nơi ở của K tại phòng số A nhà T thuộc tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P bán cho K và nhận từ K 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, K lấy một ít ma túy từ bịch ma túy ra để sử dụng một mình, phần còn lại K cất giấu vào bên trong túi áo bên phải trước ngực mà K đang mặc, đoạn ống nhựa thì K để trên bàn gỗ trong phòng của K.

Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày thì có lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ bên trong túi áo bên phải trước ngực mà K đang mặc một bịch nylon trong suốt, kích thước khoảng 2,7cm x 4,7cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất và trên bàn gỗ có một đoạn ống nhựa trong suốt, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm x 07cm bên trong đoạn ống nhựa có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, Trần Văn K khai nhận đây là ma túy đá của K cất giấu với mục đích sử dụng cá nhân.

Ngày 25/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố phú Q khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can, ra lệnh tạm giam để điều tra về tội tàng trữ trái phép chất ma túy cho đến nay.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 (một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, kích thước khoảng 2,7cm x 4,7cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong;

01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm x 07cm, bên trong đoạn ống nhựa có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong;

01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A16K màu xanh, số imei 1: 868289054982632, đã qua sử dụng.

* Tại bản kết luận giám định số 1145/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon và 01 (một) đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,9037 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Xử lý vật chứng:

- Đối với: 1,7167 gam ma túy đựng trong hai bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1166/2024 trong bao phong bì gồm 01 (một) bịch nylon và 01 (một) đoạn ống nhựa đựng ma túy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A16K màu xanh, số imei 1: 868289054982632, đã qua sử dụng.

Tất cả đã nhập kho vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSPQ ngày 07/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát kết luận: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

Đối với người tên Đ (chưa xác định được nhân thân) đã bán ma túy cho K, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

+ Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy đối với 1,7167 gam ma túy đựng trong hai bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1166/2024, trong bao phong bì gồm 01 (một) bịch nylon và 01 (một) đoạn ống nhựa đựng ma túy.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A16K màu xanh, số imei 1: 868289054982632, đã qua sử dụng. Đối với sim điện thoại của bị cáo khi hết hạn không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 17/QĐ-VKSPQ-HS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo K: Thừa nhận bản thân thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đối với sim điện thoại số 0345.259.xxx của bị cáo để trong điện thoại khi bị bắt quả tang, bị cáo không có yêu cầu được nhận lại, bị cáo đồng ý theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc tịch thu tiêu hủy sim điện thoại của bị cáo.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận dịnh như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo K khai nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác. Từ đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 16/10/2024, tại phòng trọ số A nhà T, thuộc Tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, lực lượng Công an thành phố Q bắt quả tang Trần Văn K đang tàng trữ trái phép 1,9037 gam ma túy, loại Methamphetamine. Ngày 25/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Q khởi tố bị can, ra lệnh tạm giam để điều tra cho đến nay.

[3] Hành vi của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng bị cáo đã tàng trữ trái phép với lỗi cố ý, mục đích tàng trữ của bị cáo là để sử dụng không nhằm sử dụng vào các mục đích nào khác. Khối lượng ma túy mà bị cáo đang tàng trữ trái phép 1,9037gam ma túy, loại Methamphetamine nên Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Bản thân bị cáo nhận biết rõ, tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, của gia đình và xã hội. Ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương và làm bất bình trong nhân dân.

Do đó, cần xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đồng thời, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định và phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[5] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và xử lý vật chứng trong vụ án cũng như việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo K phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn K 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn bị cáo chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2014.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

+ Tịch thu tiêu hủy đối với 1,7167 gam ma túy đựng trong hai bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1166/2024, trong bao phong bì gồm 01 (một) bịch nylon và 01 (một) đoạn ống nhựa đựng ma túy và 01 sim điện thoại số 0345.259.xxx của bị cáo để trong điện thoại khi bị bắt quả tang.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A16K màu xanh, số imei 1: 868289054982632, đã qua sử dụng.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 17/QĐ-VKSPQ-HS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn K chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 19/02/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở TP tỉnh Kiên Giang;
  • - Công an Tp. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS Tp. Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án & VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Thị Cẩm Lình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS - ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger