Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS - ST

Ngày 16/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Thanh Cầm và bà Ngô Thị Hoanh;

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS, ngày 13/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2025/QĐXXST-HS ngày 26/5/2025 đối với các bị cáo:

  1. Lưu Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 11 năm 1988, tại: Huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Ngọc N, sinh năm 1955 và bà Hoàng Thị M, sinh năm: 1957; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  1. Nguyễn Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13 tháng 01 năm 1996, tại: Huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1971 và bà Ma Thị C1, sinh năm: 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lưu Văn T: Ông Trần Bình P, Luật sư Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: Ông Hà Trung T1, Luật sư Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1971, trú tại: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; (có mặt tại phiên tòa)
  2. Lưu Ngọc N, sinh năm 1955, trú tại: Tổ D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. (có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng: Chu Quang D, sinh năm 1977, trú tại: Tổ A, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 21/5/2024, tại khu vực đường thuộc thôn N, xã N, thành phố B, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh phát hiện, bắt quả tang Lưu Văn T, Nguyễn Văn C và Chu Quang D1 hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Thời điểm phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96 do Chu Quang D điều khiển và Lưu Văn T ngồi ở ghế phụ bên phải ghế lái, còn Nguyễn Văn C một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B2 - 066.02 đi phía trước xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96. Quá trình kiểm tra, lập biên bản đã phát hiện và thu giữ các vật chứng gồm:

  • Lưu Văn T tự nguyện giao nộp 01 (một) gói được quấn bằng băng dính màu đen, bên trong có 01 (một) lớp giấy màu trắng, loại giấy vệ sinh, bên trong lớp giấy vệ sinh có 01 (một) túi nilon loại túi có khóa zip có in chữ và nhiều màu sắc, bên trong túi nilon nói trên tiếp tục có 01 (một) túi nilon trong suốt loại túi có khóa zip có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột để tại hốc chứa đồ giữa ghế lái và ghế phụ xe ô tô biển kiểm soát 30A – 543.96. Được tiến hành thu giữ và niêm phong trong phong bì ký hiệu T1.
  • Phát hiện, thu giữ tại hốc chứa đồ phía trước ghế phụ của xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96 có 01 (một) gói quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong có 01 (một) lớp giấy màu trắng, loại giấy vệ sinh, bên trong lớp giấy vệ sinh có 01 (một) túi nilon loại túi có khóa zip có in chữ và nhiều màu sắc, bên trong túi nilon nói trên tiếp tục có 01 (một) túi nilon trong suốt loại túi có khóa zip có viền màu đỏ, bên trong tiếp tục có 02 (hai) túi nilon trong suốt, loại túi có khóa zip có viền màu đỏ, bên trong có chứa:Bên trong túi nilon thứ nhất có chứa chất màu trắng dạng cục và bột và bên trong túi nilon thứ hai có chứa 10 (mười) viên nén hình trụ tròn màu đỏ.Được tiến hành thu giữ và niêm phong trong phong bì ký hiệu T2.

Ngoài ra tiến hành tạm giữ: 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B2 – 066.02; 05 (năm) điện thoại di động các

loại; tổng số tiền 1.310.000đ (một triệu, ba trăm, mười nghìn đồng) và một số đồ vật, tài sản khác.

Đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành việc khám nghiệm hiện trường ghi nhận các vị trí xe ô tô, mô tô, vị trí thu giữ các gói chứa chất bột màu trắng dạng cục và bột, 10 (mười) viên nén hình trụ tròn màu đỏ và các vị trí có liên quan.

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, công trình, phương tiện có liên quan đối với Lưu Văn T tại tổ D, thị trấn Đ, huyện C. Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Hồi 10 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, công trình, phương tiện có liên quan đối với Nguyễn Văn C tại thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng hồi 10 giờ 00 phút ngày 22/5/2024 xác định:

  • Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột có trong phong bì ký hiệu T1 khối lượng là: 37,6g (ba mươi bảy phẩy sáu gam) và được niêm phong lại gửi Phòng K Công an tỉnh B giám định trong phong bì ký hiệu M1.
  • Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột có trong phong bì ký hiệu T2 có khối lượng là: 37,8g (ba mươi bảy phẩy tám gam) và được niêm phong lại gửi Phòng K Công an tỉnh B giám định trong phong bì ký hiệu M2.
  • Cân riêng 10 (mười) viên nén hình trụ tròn màu đỏ có trong phong bì ký hiệu T2 có tổng khối lượng là: 1,1g (một phẩy một gam) và được niêm phong lại gửi Phòng K Công an tỉnh B giám định trong phong bì ký hiệu M3.

Tại bản kết luận giám định số: 171/KL - KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong 02 (hai) phong bì ký hiệu M1 và M2 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D2; 10 (mười) viên nén hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì ký hiệu M3 gửi giám định ma túy; loại Methamphetamine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

  • Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là 37,6g (Ba mươi bảy phẩy sáu).
  • Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu M2 có khối lượng là 37,8g (Ba mươi bảy phây tám).
  • 10 (mười) viên nén màu đỏ trong phong bì ký hiệu M3 có tổng khối lượng là 1,1g (Một phẩy một)

Tổng khối lượng mẫu chất có trong 03 (ba) phong bì ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là 76,5g (Bảy mươi sáu phây năm gam)”.

Ngày 29/5/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra quá trình Lưu Văn T cất giấu toàn bộ số ma túy bị thu giữ trên xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96 do Chu Quang D điều khiển vào ngày 21/5/2024. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 21/5/2024 và các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Quá trình điều tra, truy tố xác định được hành vi của các bị cáo như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 21/5/2024, Lưu Văn T được một người phụ nữ tên là H1 (T không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể) liên lạc qua điện thoại hẹn Thoảng đến khu vực cầu B thuộc xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để trao đổi về việc H1 thuê Thoảng vận chuyển ma túy từ khu vực nói trên đến thành phố B thì Thoảng đồng ý. Sau đó T gọi điện thoại cho Chu Quang D để thuê D lái xe ô tô đến đón và chở T đến thành phố B, D đồng ý và điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30A – 543.96 đi từ nhà đến đón T. Sau đó T bảo D điều khiển xe ô tô chở T đến khu vực gần cầu B thuộc xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì dừng lại và T xuống xe, đi bộ về phía cầu B để gặp H1. Tại đây, H1 đưa cho T 02 (hai) gói ma túy được bọc bên ngoài bằng băng dính màu đen, H1 bảo Thoảng vận chuyển số ma túy trên đến khu vực Cầu Đ, thành phố B(đường rẽ đi huyện C) sẽ có người liên lạc để nhận ma túy. Quá trình trao đổi T và H1 chưa thống nhất tiền công vận chuyển ma túy mà đợi sau khi vận chuyển ma túy thành công sẽ thống nhất và trả tiền công cho T. Sau khi nhận được ma túy từ H1 thì T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn C để thuê C điều khiển xe mô tô đi trước từ thị trấn Đ, huyện C đến thành phố B để cảnh giới cho T vận chuyển ma túy theo sau. Quá trình đi nếu C phát hiện có lực lượng chức năng kiểm tra thì thông báo cho T để Thoảng cất giấu ma túy hoặc thay đổi tuyến đường di chuyển để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện. Thoảng chưa thỏa thuận tiền công sẽ trả cho C, D mà dự định sau khi vận chuyển ma túy thành công xong và được H1 trả tiền thì T sẽ trả công cho C bằng tiền hoặc ma túy và trả tiền thuê xe cho D.

Sau đó T quay lại xe ô tô biển kiểm soát 30A – 543.96 và bảo D lái xe đến thành phố B. Trên đường đi, Thoảng cất giấu 01 (một) gói ma túy tại hốc để đồ giữa hai ghế hàng ghế trước và 01 (một) gói ma túy tại hốc để đồ phía trước ghế phụ bên phải hàng ghế trước của xe ô tô biển kiểm soát 30A – 543.96. Toàn bộ quá trình thuê xe và cùng D đi nhận ma túy, vận chuyển ma túy lên thành phố B thì T không nói cho D biết là T đi vận chuyển ma túy và việc cất giấu ma túy tại các vị trí trên xe ô tô của D thì D cũng không biết. Khi C đang điều khiển xe mô tô đi trước đến khu vực thôn N, xã N, thành phố B thì phát hiện có tổ Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ nên C đã thông báo cho T và dẫn đường cho T đi theo đường rẽ vào thôn K, xã N, thành phố B rồi đi ra khu vực đường thuộc thôn N, xã N, thành phố B để tránh Cảnh sát giao thông và để đi ra khu vực cầu Đ giao ma túy. Khi C và T, D đi đến khu vực thôn N, xã N, thành phố B thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy.

Đối với Nguyễn Văn C: C thừa nhận, khoảng 17 giờ ngày 21/5/2024, C được T liên lạc qua điện thoại bảo C điều khiển xe mô tô ra ngã ba Y thuộc thị

trấn Đ, huyện C để đi trước xem đường cho T vận chuyển ma túy lên thành phố B. Sau đó C đã điều khiển xe đi trước cảnh giới cho T vận chuyển ma túy với mục đích Thoảng cho ma túy sử dụng cho bản thân (vì C là người sử dụng chất ma túy). Sau đó khi đang trên đường G vận chuyển ma túy thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.

Đối với Chu Quang D: D thừa nhận bản thân được Thoảng thuê lái xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96 chở T đi từ thị trấn Đ, huyện C đến khu vực xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên sau đó tiếp tục điều khiển xe ô tô chở T đi đến thành phố B. Tuy nhiên D không biết T đi đến thành phố B để làm gì, không biết T có đem theo ma túy và cất giấu ma túy trên xe ô tô của D. D và T chưa thống nhất số tiền công D chở T đến thành phố B là bao nhiêu mà đợi sau khi quay về mới thống nhất trả tiền.

Tại Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSBK-P1 ngày 25/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố các bị cáo Lưu Văn T và Nguyễn Văn C về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Điều luật 250 có nội dung:

“1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

b)Heroine, Methamphetamine...có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

h)Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Lưu Văn T và Nguyễn Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Về TNHS và hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58/BLHS xử phạt bị cáo: Lưu Văn T từ 16 - 17 năm tù; Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58/BLHS xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn C từ 15 - 16 năm tù. (Thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/5/2024).

- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47/BLHS, Điều 106/BLTTHS:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, bên trong chứa mẫu chất ma túy thu giữ của Lưu Văn T ngày 21/5/2024. Mặt trước phong bì có ký hiệu T105 và dòng chữ viết tay "Mẫu hoàn trả sau giám định vụ Lưu Văn T (1988) và Nguyễn Văn C (1996) vận chuyển trái phép chất ma túy". Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ; Tình trạng: Còn nguyên vẹn niêm phong.
  • 01 (một) phong bì niêm phong dán kín chứa băng dính, giấy gói, nilon và vỏ phong bì T1, T2 sau khi mở niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M4. Mặt sau phong bì có 08 (tám) chữ ký không đọc được, có 01 (một) chữ "Thoảng", các dòng chữ "Lưu Văn T", Nguyễn Văn C", "Chu Quang D", "Trần Văn Đ", "Nông Quốc V" và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ; Tình trạng: Còn nguyên vẹn niêm phong.

- Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, bên trong lắp 02 sim số thuê bao 0358302392 và 0328922402, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Lưu Văn T.

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh, trắng, bên trong có lắp 01 sim số thuê bao 0329430498, điện thoại đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động loại IPhone XS màu đen bên trong có lắp 01 sim số thuê bao 0976609934, điện thoại cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn C (Phong bì niêm phong và sim tịch thu tiêu hủy).

- Tạm giữ để đảm bảo việc THA: Số tiền 910.000đ (chín trăm mười nghìn đồng) thu giữ của Lưu Văn T (Niêm phong trong phong bì ký hiệu “LVT”) và số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn C (Niêm phong trong phong bì ký hiệu “NVC").

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn C do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C2 cấp ngày 09/01/2023 thu giữ của Nguyễn Văn C.

- Trả lại cho người có QL, NV liên quan đến vụ án:

  • Trả cho ông Chu Quang D: 01 (một) điện thoại di động, loại điện thoại cảm ứng màu đen, màn hình có vết rạn nứt, có số IMEI1: 355123116130395 và số IMEI2: 355123116130403. Bên trong có lắp 01 (một) sim số thuê bao 0355661482; Tình trạng: Điện thoại cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, mặt sau màu vàng cát, có in số IMEI1: 869802067191113; số IMEI2: 869802067191105, bên trong điện thoại không có sim; Tình trạng: Điện thoại đã qua sử dụng, bị khóa màn hình và 01 (một) xe ô tô thu giữ của Chu Quang D, nhãn hiệu KIA đã được niêm phong các cửa và nắp capô; Loại xe: ô tô con; Số loại: MORNING; Màu sơn: Bạc; Dung tích xilanh: 999cm³; Số khung: KNABA24424T026460; Số máy: G4HE4807219; Biển kiểm soát: 30A - 543.96; Tình trạng: Xe cũ, đã qua sử dụng.
  • Trả cho ông Nguyễn Văn H (Bố đẻ bị cáo C): 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA; Loại xe: 02 bánh từ 50 - 175cm3; Số loại: WAVE; Màu sơn: Xám đen; Dung tích xilanh: 109cm³; Số khung: RLHJA3842MY122005; Số máy: JA52E0269771; Biển kiểm soát: 97B2 - 066.02; Tình trạng: Xe đã qua sử dụng và 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy thu giữ của Nguyễn Văn C, số 97006169 do Phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 21/7/2024 cho xe mô tô biển kiểm soát 97B2 - 066.02 mang tên chủ xe là Nguyễn Văn H.

- Về Án phí: Áp dụng Điều 135, 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị được trả lại các tài sản thuộc sở hữu của mình và không có yêu cầu gì khác.

Người bào chữa cho bị cáo Lưu Văn T và Nguyễn Văn C nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để khẳng định:

Ngày 21/5/2024, tại khu vực thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang Lưu Văn T và Nguyễn Văn C có hành vi cùng nhau vận chuyển trái phép là 76,5g(Bảy mươi sáu phẩy năm gam) ma túy Heroine và M1 từ khu vực huyện C lên thành phố B cho người phụ nữ tên H1 (Không rõ nhân thân, lại lịch, địa chỉ cụ thể) để nhằm mục đích hưởng tiền công và ma túy để sử dụng cho bản thân.

Tại bản kết luận giám định số: 171/KL - KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng

K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong 02 (hai) phong bì ký hiệu M1 và M2 gửi giám định đều là ma túy: loại Heroine (H), có tên khoa học là D2; 10 (mười) viên nén hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì ký hiệu M3 gửi giám định ma túy: loại Methamphetamine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

  • Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là 37,6g (Ba mươi bảy phây sáu).
  • Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu M2 có khối lượng là 37,8g (Ba mươi bảy phây tám).
  • 10 (mười) viên nén màu đỏ trong phong bì ký hiệu M3 có tổng khối lượng là 1,1g (Một phẩy một)

Tổng khối lượng mẫu chất có trong 03 (ba) phong bì ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là 76,5g (Bảy mươi sáu phây năm gam)”.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố các bị cáo Lưu Văn T và Nguyễn Văn C về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, là mầm mống gây ra nhiều tội phạm khác. Do đó, cần buộc các bị cáo phải chịu hình phạt nghiêm khắc mới thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, cũng như đủ sức răn đe và phòng ngừa đối với loại tội phạm ma túy đang ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp như hiện nay.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lưu Văn T2 và Nguyễn Văn C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Lưu Văn T và Nguyễn Văn C đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Do đó các bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo Lưu Văn Thoảng có bố đẻ là ông Lưu Ngọc N được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì và Hội đồng chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, do đó bị cáo T được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo: Trong vụ án bị cáo Lưu Văn T giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu; bị cáo Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy, do hám lợi bất chính nên đã đồng phạm cùng Lưu Văn T3 với vai trò là người giúp sức

thực hiện hành vi phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy loại Heroine và Methamphetamine với tổng khối lượng 76,5g. Do đó, các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với với tổng khối lượng ma túy là 76,5g, tuy nhiên khi quyết định hình phạt sẽ xem xét đến vai trò đồng phạm của từng bị cáo để có mức án phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc ổn định nên không có thu nhập vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung các bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

  • Đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, bên trong chứa mẫu chất ma túy thu giữ của Lưu Văn T ngày 21/5/2024. Mặt trước phong bì có ký hiệu T105 và dòng chữ viết tay "Mẫu hoàn trả sau giám định vụ Lưu Văn T (1988) và Nguyễn Văn C (1996) vận chuyển trái phép chất ma túy". Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ; Tình trạng: Còn nguyên vẹn niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín chứa băng dính, giấy gói, nilon và vỏ phong bì T1, T2 sau khi mở niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M4. Mặt sau phong bì có 08 (tám) chữ ký không đọc được, có 01 (một) chữ "Thoảng", các dòng chữ "Lưu Văn T", Nguyễn Văn C", "Chu Quang D", "Trần Văn Đ", "Nông Quốc V" và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ; Tình trạng: Còn nguyên vẹn niêm phong. Xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Lưu Văn T, nhãn hiệu Redmi, loại màn hình cảm ứng, mặt sau màu đen. Có số IMEI1: 860386066553803/78 và số IMEI2: 860386066553811/78; Bên trong lắp 02 (hai) sim số thuê bao 0358302392 và 0328922402; Tình trạng: Điện thoại đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định bị cáo sử dụng để liên lạc vận chuyển trái phép chất ma túy, do đó cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn C, nhãn hiệu Viettel màu xanh, trắng, có số IMEI: 355240308021883 và 355240308026981, bên trong có lắp 01 (một) sim số thuê bao 0329430498; Tình trạng: Điện thoại cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn C, loại iPhone XS màu đen, màn hình cảm ứng, có số IMEI: 357309098874831 và 357309098076122, bên trong có lắp 01 (một) sim số thuê bao 0976609934; Tình trạng: Điện thoại cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, bị cáo sử dụng 02 điện thoại trên để liên lạc và định vị vận chuyển trái phép chất ma túy, do đó cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Chu Quang D, loại điện thoại cảm ứng màu đen, màn hình có vết rạn nứt, có số IMEI1: 355123116130395 và số IMEI2: 355123116130403. Bên trong có lắp 01 (một) sim số thuê bao 0355661482 ; Tình trạng: Điện thoại cũ, đã qua sử dụng;01 (một) Điện thoại di động thu giữ của Chu Quang D, nhãn hiệu OPPO, mặt sau màu vàng cát, có in số IMEI1: 869802067191113; số IMEI2: 869802067191105, bên trong điện thoại không có sim; Tình trạng: Điện thoại đã qua sử dụng, bị khóa

màn hình;01 (một) xe ô tô thu giữ của Chu Quang D, nhãn hiệu KIA đã được niêm phong các cửa và nắp capô; Loại xe: ô tô con; Số loại: MORNING; Màu sơn: Bạc; Dung tích xilanh: 999cm³; Số khung: KNABA24424T026460; Số máy: G4HE4807219; Biển kiểm soát: 30A - 543.96; Tình trạng: Xe cũ, đã qua sử dụng; Qua điều tra xác định Chu Quang D không liên quan đến hành vi phạm tội của T và C nên cần trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là Chu Quang D.

  • Đối với 01 (một) xe mô tô thu giữ của Nguyễn Văn C, nhãn hiệu HONDA; Loại xe: 02 bánh từ 50 - 175cm3; Số loại: WAVE; Màu sơn: Xám đen; Dung tích xilanh: 109cm³; Số khung: RLHJA3842MY122005; Số máy: JA52E0269771; Biển kiểm soát: 97B2 - 066.02; Tình trạng: Xe đã qua sử dụng; 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy thu giữ của Nguyễn Văn C, số 97006169 do Phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 21/7/2024 cho xe mô tô biển kiểm soát 97B2 - 066.02 mang tên chủ xe là Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Văn H (bố đẻ của bị cáo Nguyễn Văn C) là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B2 - 066.02 mà Nguyễn Văn C điều khiển để tham gia cùng Lưu Văn T vận chuyển trái phép chất ma túy vào ngày 21/5/2024. Ngày 21/5/2024, ông H không biết C lấy xe mô tô của ông đi để vận chuyển trái phép chất ma túy. Xét thấy cần trả lại chiếc xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H.
  • Đối với 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn C do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C2 cấp ngày 09/01/2023 thu giữ của Nguyễn Văn C, xét thấy cần trả lại cho bị cáo C.
  • Đối với số tiền 910.000đ (chín trăm mười nghìn đồng) thu giữ của Lưu Văn T (Niêm phong trong phong bì ký hiệu “LVT”) và số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn C(Niêm phong trong phong bì ký hiệu “NVC”), quá trình điều tra xác định số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, trả lại cho các bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.
  • Đối với 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 30A-543.96 mang tên Đinh Văn T4 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 5865857 của xe ô tô BKS 30A-543.96 do Chu Quang D nộp trong giai đoạn điều tra bổ sung, hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, cần trả lại cho ông Chu Quang D.

[7] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn: Xét thấy, các căn cứ, lập luận và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật, được chấp nhận.

[8] Các nội dung khác của vụ án:

Đối với người phụ nữ tên H1 (Thoảng không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) đã thuê Lưu Văn T vận chuyển trái phép chất ma túy ngày 21/5/2024. Qua điều tra Thoảng không cung cấp được họ tên, địa chỉ, nhân thân, lý lịch của người này nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.

Đối với số thuê bao điện thoại người phụ nữ tên H1 đã liên lạc thuê Lưu Văn T vận chuyển trái phép chất ma túy ngày 21/5/2024. Qua điều tra, T khai

nhận được người phụ nữ tên H1 liên lạc vào số thuê bao 0328.922.402 của T nhưng Thoảng không lưu số và được người phụ nữ tên H1 liên lạc bằng nhiều số điện thoại khác nhau nên T không nhớ cụ thể số điện thoại nào.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của Thoảng và tiến hành xác minh thông tin một số thuê bao có liên lạc với T trong khoảng thời gian từ 16 giờ 26 phút đến 18 giờ 00 phút cùng ngày 21/5/2024 như: 0347.512.907, 0986.219.146, 0359.139.076 (Theo lời khai của T là người phụ nữ tên H2 lạc với T để thuê T vận chuyển ma ma túy vào thời điểm khoảng 17 giờ ngày 21/5/2024). Tuy nhiên qua điều tra xác định:

  • Số thuê bao 0986.219.146 được đăng ký và do ông Lục Văn S, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã T, huyện C. Qua điều tra ông S thừa nhận có được liên lạc với T nhưng chỉ để hỏi thăm sức khỏe vì thời điểm đó ông đang đi làm thuê tại tỉnh Lai Châu và không liên lạc trao đổi với T về việc mua bán, vận chuyển ma túy.
  • Số thuê bao 0347.512.907 được đăng ký và do ông Tạ Thủy G, sinh năm 1982, trú tại Tổ G, thị trấn Đ, huyện C. Qua điều tra ông G thừa nhận bản thân ông là người sử dụng ma túy và đang điều trị uống thuốc cai nghiện Methadone. Quá trình đi uống thuốc Methadone có một số người cùng đi uống thuốc như ông có mượn điện thoại để gọi, nhưng ông không nhớ là ai. Bản thân ông không liên lạc trao đổi với T về việc mua bán, vận chuyển ma túy.
  • Số thuê bao 0359.139.076 được đăng ký tên ông Ma Văn L, sinh năm 1974, trú tại thôn B, xã Q, huyện C. Qua điều tra ông L thừa nhận bản thân ông không được đăng ký và sử dụng số thuê bao 0359.139.076 và cũng không quen biết ai tên là Lưu Văn T.

Đối với ông Lưu Ngọc N, sinh năm 1955, trú tại tổ D, thị trấn Đ, huyện C (Bố đẻ bị cáo Lưu Văn T) là người đăng ký thông tin thuê bao số 0358.302.392. Tuy nhiên đến tháng 5 năm 2023 thì ông đưa cho T sử dụng. Bản thân ông không biết việc T có hành vi vận chuyển ma túy ngày 21/5/2024.

Đối với Chu Quang D là người được Lưu Văn T thuê chở lên thành phố B và sau đó điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30A – 543.96 (Xe do D mua từ tháng 2 năm 2024 tại địa bàn thành phố T, nhưng không nhớ mua với ai) chở T đi nhận ma túy rồi sau đó chở T lên thành phố B vào ngày 21/5/2024. Bản thân D không biết hay được T nói cho biết việc T nhận, cất giấu ma túy trên xe ô tô của D để vận chuyển lên thành phố B. Qua điều tra xác định D không liên quan đến hành vi phạm tội của T và C nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với ông Đinh Văn T4, sinh năm 1975, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội là người đứng tên và đăng ký chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96. Tuy nhiên sau đó đến năm 2017 ông đã bán cho người khác (Không nhớ người mua xe là ai) và cũng không quen biết ai tên là Chu Quang D, sinh năm 1977, trú tại tổ A, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Qua điều tra xác định ông T4 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971 trú tại thôn B, xã Q, huyện C (Bố đẻ Nguyễn Văn C) là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B2 - 066.02 mà Nguyễn Văn C điều khiển để tham gia cùng Lưu Văn T vận chuyển trái phép chất ma túy vào ngày 21/5/2024. Ngày 21/5/2024, C lấy xe đi đâu làm gì thì ông không biết. Qua điều tra xác định ông H không liên quan đến hành vi phạm tội của T và C nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 29/4/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số: 02/2025/HSST-QĐ, ngày 29/4/2025 cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn để điều tra bổ sung vấn đề sau:

  • Điều tra làm rõ lời khai tại phiên tòa của Nguyễn Văn C về việc: Khoảng hơn 17 giờ ngày 21/5/2024, Nguyễn Văn C được chứng kiến Ngô Văn H3, sinh năm 1983, trú tại: thôn B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giao 02 gói ma túy cho Lưu Văn T tại phòng ngủ nhà của Ngô Văn H3 để Thoảng vận chuyển ma túy lên thành phố B. Tại thời điểm đó, còn có Chu Quang D, sinh năm 1977, trú tại: Tổ A, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đứng ở ngoài sân nhà của H3 và Ngô Văn H3 là người giao chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96 cho D điều khiển chở T lên thành phố B, chiếc xe ô tô trên là xe thuộc sở hữu của H3. Đồng thời, Ngô Văn H3 là người giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn C làm “hoa tiêu” cho Lưu Văn T vận chuyển ma túy lên thành phố B. Xét thấy, cần phải xác minh, điều tra làm rõ lời khai trên để xác định Ngô Văn H3 và Chu Quang D có đồng phạm với Nguyễn Văn C và Lưu Văn T hay không?
  • Điều tra làm rõ nguồn gốc chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30A - 543.96 do Chu Quang D điều khiển. Tại phiên tòa, Chu Quang D khai nhận được mua chiếc xe ô tô trên (D không nhớ biển kiểm soát xe) với một người không biết tên, tuổi địa chỉ ở tại thành phố T vào thời gian trước ngày 21/5/2024 khoảng 10 ngày, với số tiền 67.000.000đ. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai vào hồi 22 giờ 15 phút ngày 21/5/2024 (BL 190 – 191) D khai “Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/5/2024 có em T thuộc tổ D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn gọi điện cho tôi vào số điện thoại của tôi là 0355.661.xxx lắp sim trong chiếc điện thoại cảm ứng màu đen với nội dung T nói “Đi hộ một chuyến xe đi Bắc Kạn”, tôi nói là “Đồng ý”. Tôi đi xe môtô của tôi mang biển kiểm soát không nhớ, nhãn hiệu Dream, màu trắng tím từ nhà xuống nhà em T. Sau đó T đưa chìa khóa ô tô cho tôi (nhãn hiệu otô là xe KIA, mang biển kiểm soát 30A-543.96, màu bạc) cùng T ngồi ở ghế phụ của xe đi lên thẳng thành phố B theo đường Quốc lộ 3....”. Ngoài ra, tại các bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2024 có trong hồ sơ vụ án, Chu Quang D khai mua chiếc xe ô tô trên vào tháng 02/2024 với số tiền 80.000.000đ. Thấy rằng, lời khai của Chu Quang D còn có nhiều mâu thuẫn, cơ quan điều tra cũng không thu thập được giấy tờ mua bán xe của D. Do vậy, cần điều tra làm rõ về nguồn gốc và chủ sở hữu của chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 30A-543.96 là ai?

Tuy nhiên, sau khi điều tra bổ sung xét thấy ngoài lời khai của Nguyễn Văn C thì không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh Ngô Văn H3 và Chu Quang D đồng phạm với Nguyễn Văn C và Lưu Văn T trong việc vận chuyển trái phép

chất ma túy. Đồng thời, qua kết quả điều tra bổ sung đủ cơ sở để khẳng định chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 30A – 543.96 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Chu Quang D. Do đó ngày 12/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã có công văn số 229/CV-VKS-P1, về việc chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xét xử và giữ nguyên nội dung Cáo trạng số: 05/CT-VKST-P1, ngày 25/5/2025. Do vậy, HĐXX không có căn cứ để xem xét đối với các lời khai của Nguyễn Văn C.

[9] Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lưu Văn T và Nguyễn Văn C là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Lưu văn T và Nguyễn Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/5/2024).
    2. Áp dụng điểm h khoản 3, Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/5/2024).
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, bên trong chứa mẫu chất ma túy thu giữ của Lưu Văn T ngày 21/5/2024. Mặt trước phong bì có ký hiệu T105 và dòng chữ viết tay "Mẫu hoàn trả sau giám định vụ Lưu Văn T (1988) và Nguyễn Văn C (1996) vận chuyển trái phép chất ma túy". Mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ; Tình trạng: Còn nguyên vẹn niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín chứa băng dính, giấy gói, nilon và vỏ phong bì T1, T2 sau khi mở niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M4. Mặt sau phong bì có 08 (tám) chữ ký không đọc được, có 01 (một) chữ "Thoảng", các dòng chữ "Lưu Văn T", Nguyễn Văn C", "Chu Quang D", "Trần Văn Đ", "Nông Quốc V" và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ; Tình trạng: Còn nguyên vẹn niêm phong.
    • Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Lưu Văn T, nhãn hiệu Redmi, loại màn hình cảm ứng, mặt sau màu đen. Có số IMEI1: 860386066553803/78 và số IMEI2: 860386066553811/78; Bên trong lắp 02 (hai) sim số thuê bao 0358302392 và 0328922402; Tình trạng: Điện thoại đã qua sử dụng.
    • Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn C, nhãn hiệu Viettel màu xanh, trắng, có số IMEI: 355240308021883 và 355240308026981, bên trong có lắp 01 (một) sim số thuê bao 0329430498; Tình trạng: Điện thoại cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn C, loại iPhone XS màu đen, màn hình cảm ứng, có số IMEI: 357309098874831 và 357309098076122, bên trong có lắp 01 (một) sim số thuê bao 0976609934; Tình trạng: Điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho ông Chu Quang D : 01 (một) điện thoại di động thu giữ của Chu Quang D, loại điện thoại cảm ứng màu đen, màn hình có vết rạn nứt, có số IMEI1: 355123116130395 và số IMEI2: 355123116130403. Bên trong có lắp 01 (một) sim số thuê bao 0355661482 ; Tình trạng: Điện thoại cũ, đã qua sử dụng;01 (một) Điện thoại di động thu giữ của Chu Quang D, nhãn hiệu OPPO, mặt sau màu vàng cát, có in số IMEI1: 869802067191113; số IMEI2: 869802067191105, bên trong điện thoại không có sim; Tình trạng: Điện thoại đã qua sử dụng, bị khóa màn hình;01 (một) xe ô tô thu giữ của Chu Quang D, nhãn hiệu KIA đã được niêm phong các cửa và nắp capô; Loại xe: ô tô con; Số loại: MORNING; Màu sơn: Bạc; Dung tích xilanh: 999cm³; Số khung: KNABA24424T026460; Số máy: G4HE4807219; Biển kiểm soát: 30A - 543.96; Tình trạng: Xe cũ, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho ông Nguyễn Văn H: 01 (một) xe mô tô thu giữ của Nguyễn Văn C, nhãn hiệu HONDA; Loại xe: 02 bánh từ 50 - 175cm3; Số loại: WAVE; Màu sơn: Xám đen; Dung tích xilanh: 109cm³; Số khung: RLHJA3842MY122005; Số máy: JA52E0269771; Biển kiểm soát: 97B2 - 066.02; Tình trạng: Xe đã qua sử dụng; 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy thu giữ của Nguyễn Văn C, số 97006169 do Phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 21/7/2024 cho xe mô tô biển kiểm soát 97B2 - 066.02 mang tên chủ xe là Nguyễn Văn H.

    (Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).

    • Tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn C(Niêm phong trong phong bì ký hiệu “NVC”).
    • Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lưu Văn T số tiền 910.000₫ (chín trăm mười nghìn đồng) thu giữ của Lưu Văn T (Niêm phong trong phong bì ký hiệu “LVT").
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn C do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C2 cấp ngày 09/01/2023.
    • Trả lại cho ông Chu Quang D: 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 30A-543.96 mang tên Đinh Văn T4 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 5865857 của xe ô tô BKS 30A-543.96 (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án).
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lưu Văn T và Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh (phòng Ma túy);
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Quang Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS - ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Lưu văn T và Nguyễn Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger