Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHƯỚC

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 16-4-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Thưởng

Trần Thị Thu Thảo.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN MINH N, sinh năm 1989. Nơi sinh: Tiền Giang.

Nơi cư trú: Ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Căn cước công dân số: [...]. Ngày cấp: 28/8/2022. Nơi cấp: Cục C về TTXH.

Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 9/12.

Con ông Nguyễn Minh N1 và bà Trần Thị Ngọc L.

Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thúy D, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án: 00. Tiền sự: 00.

Đặc điểm nhân thân: Ngày 20/5/2024, bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 01 (một) năm, chấp hành xong ngày 09/3/2025.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Võ Văn T, sinh năm 1978. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1975. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

2. Ông Đặng Văn H1, sinh năm 1963. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 18/12/2023, bị cáo Nguyễn Minh N một mình đi bộ trên bờ Nam kênh Ngang 3. Khi đến đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang bị cáo phát hiện xe mô tô 02 bánh biển số 63H1- 0595 của ông Võ Văn T đang đỗ trên bờ kênh để đi thăm ruộng. Quan sát xe không có người trông coi, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe trên bằng cách dùng tay giật mạnh làm vỡ mặt nạ trước, bửng phải và giật đứt dây điện nối với ổ khóa rồi leo lên xe khởi động, điều khiển xe chạy đi.

Bị cáo điều khiển xe vừa trộm được chạy đến địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, cách hiện trường vụ trộm khoảng 3,5 Km. Khi đến đoạn gần trụ sở Ủy ban nhân dân xã T thì xe hết xăng nên bị cáo dẫn bộ được một đoạn nhưng không dẫn nổi nên đã dựng xe cặp lề lộ rồi đi bộ vào nhà của một người dân và gặp ông Nguyễn Tuấn A – Trưởng Công an xã T. Bị cáo tự thú và khai hành vị vừa lấy trộm xe 63H1-0595 của người khác.

Công an xã T lập biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú, thu giữ xe và chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 499/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T xác định giá trị còn lại của xe mô tô 63H1-0595 là 4.500.000 và giá trị các bộ phận trên xe bị hư hỏng là 212.000 đồng.

Về vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ 01 (một) xe mô tô 02 bánh biển số 63H1- 0595, hiệu Honda, màu xanh đen, số máy: HC12E0158626, số khung: RLHHC12008Y575788, bị hư hỏng mặt nạ trước, cánh bửng bên phải và hệ thống dây điện nối với ổ khoá. Qua điều tra xác định xe mô tô trên là sở hữu của ông Võ Văn T, nhưng do thời điểm mua xe, ông T đã nhờ ông Trịnh Văn H, sinh năm 1975, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang đứng tên dùm trên giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe cho ông T, đã nhận xe xong.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường chi phí sửa chữa các bộ phận bị hư hỏng của xe mô tô biển số 63H1- 0595 với số tiền 1.000.000 đồng cho bị hại ông Võ Văn T. Ông T đã nhận đủ tiền và có đơn xin bãi nại đối với bị cáo và không yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSTP ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Phước để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Do đó có cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự thú, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại. Ngoài ra, bị cáo có bà nội là người có công với cách mạng được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, vợ cáo hiện đang mắc bệnh trầm cảm nặng với các triệu chứng loạn thần nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các Điểm b, h, i, r, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 (hai) lần bị địa phương ra quyết định quản lý tại địa phương do sử dụng trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Bị cáo thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn hối cãi cho việc làm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, để có thể chăm lo cho vợ, con, chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, của Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.
  2. Về sự vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên tòa: Bị hại ông Võ Văn T và người liên quan là ông Trịnh Văn H vắng mặt. Quá trình điều tra, truy tố những người này đã có lời khai đầy đủ, Kiểm sát viên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, việc vắng họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh N thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận trước khi thực hiện hành vi trộm cắp xe có sử dụng ma túy gây ra kích thích (ảo giác) nên mới thực hiện tội phạm. Tại Điều 13 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn chịu trách nhiệm hình sự”. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng số 14/CT-VKSTP ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết chấp hành nghiêm pháp luật và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đảm bảo an toàn trật tự xã hội.

  5. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
    1. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    2. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự thú, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại. Ngoài ra, bị cáo có bà nội là người có công với cách mạng được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, vợ cáo hiện đang mắc bệnh trầm cảm nặng với các triệu chứng loạn thần nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các Điểm b, h, i, r, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.
    3. Về nhân thân và hình phạt áp dụng: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã có 05 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính để lo cho vợ bị bệnh nặng.

    Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 18/12/2023, trong khi Ủy ban nhân dân xã L, thị xã C ra quyết định quản lý người sử dụng trái pháp chất ma túy và ngày 25/12/2023 và đến ngày 20/5/2024, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy mới có quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo. Như vậy, lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền sự. Căn cứ quy định tại các Điều 1, 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Đ a Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự là đã đủ để giáo dục, cải tại bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  6. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Đặng Văn H1 là người nhà của bị cáo đã thay mặt bị cáo bồi thường cho ông Võ Văn T số tiền 1.000.000 đồng do khi thực hiện hành vi trộm cắp xe, bị cáo có làm hư hỏng các bộ phận trên xe. Bị hại ông Võ Văn T đã nhận tiền xong, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ông H1 được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại và người liên quan ông H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định.
  9. Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, không phù hợp về mức hình phạt nên Hội đồng xét xử có ghi nhận một phần khi nghị án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    * Áp dụng Khoản 1 Điều 173; các Điểm b, h, i, r, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về sửa đổi Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP cảu Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

    Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Minh N cho Ủy ban nhân xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo Nguyễn Minh N thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách được thực hiện theo Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách bị cáo Nguyễn Minh N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự.

  2. Về án phí:

    * Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    - Buộc bị cáo Nguyễn Minh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo:

    * Áp dụng các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo Nguyễn Minh N, ông Đặng Văn H1 được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại ông Võ Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn H được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ THAHS Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Tân Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phước;
  • - UBND xã Long Khánh, TX. Cai Lậy, TG;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án teo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger