Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 15-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Duy Hồ;

  2. Ông Nguyễn Trần Quyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 06/2025/HSST-QĐ ngày 19 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo: Họ và tên: Võ Văn K, sinh ngày: 01/01/1971, tại Đồng Tháp. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Nghề nghiệp, chức vụ khi phạm tội: Thủ kho Công ty A1. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Họ và tên cha: Võ Văn H, sinh năm 1930 (đã chết). Họ và tên mẹ: Đặng Thị N, sinh năm 1936. Gia đình có 06 anh, em, bị cáo là con thứ tư. Vợ Dương Thị Đ, sinh năm 1969 (đã ly hôn). Có 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 26/3/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/4/2019. Bắt tạm giam ngày 08/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (Nay là P trại Tạm giam khu vực thành phố H).

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Công ty TNHH A1.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Nguyễn Ngọc D – Chức vụ: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Võ Văn T, sinh ngày 20/01/1987. Nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Tuấn K1, sinh ngày 04/7/1993. Địa chỉ: Khu V, phường T, Quận T, Thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Anh Huỳnh Thái H1, sinh ngày 29/01/2000. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 01/03/2006. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  4. Anh Nguyễn Tuấn K2, sinh ngày 23/4/2003. Địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Anh Phan Văn T2, sinh ngày 01/01/1994. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, Đồng Tháp.

  6. Anh Nguyễn Thái Q, sinh ngày 09/8/2000. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, Đồng Tháp.

  7. Anh Trương Bảo Sang A, sinh ngày 21/9/1997. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  8. Anh Phạm Văn L, sinh ngày 09/10/1999. Địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, Đồng Tháp.

  9. Anh Trần Văn N1, sinh ngày 01/01/1985. Địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, Đồng Tháp.

  10. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1971. Địa chỉ: Khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  11. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1975. Địa chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, Đồng Tháp.

  12. Anh Đỗ Trọng Đ1, sinh năm 1991. Địa chỉ: khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Võ Nhật H3, sinh ngày 12/4/2003. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Anh Trần Vũ P1, sinh ngày 19/8/1990. Địa chỉ: khóm T, thị trấn T, huyện H, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn A1 (gọi tắt là Công ty A1) có mã số doanh nghiệp là 1401308072 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp ngày 25/10/2010, đăng ký doanh nghiệp kinh doanh: Vận tải hàng hóa bằng đường bộ, mua bán đồ uống có cồn (rượu, bia); đồ uống không cồn (pepsi, côca...), buôn bán thực phẩm, buôn bán nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan. Công ty A1 có trụ sở tại số I, khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; có vốn điều lệ là 04 tỷ đồng do bà Đỗ Nguyễn Ngọc D là Chủ tịch kiêm giám đốc và người đại diện theo pháp luật của Công ty.

Tháng 10/2019, bị cáo Võ Văn K được Công ty A1 tuyển dụng vào làm việc và phân công nhiệm vụ Thủ kho, nhiệm vụ của Võ Văn K là: Thực hiện việc kiểm đếm, giao nhận hàng hóa; tiếp nhận các loại hàng hóa, chứng từ giao nhận hàng hóa, lưu kho đúng thủ tục, chuyển cho bộ phận Kế toán theo quy định. Hàng ngày kiểm tra, tiếp nhận các chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục nhập và xuất hàng trong kho; lưu trữ phiếu nhập kho và phiếu xuất kho; theo dõi số lượng hàng hóa xuất, nhập, tồn hàng ngày và đối chiếu cùng với Kế toán; sắp xếp hàng hóa trong kho ngăn nắp để dễ dàng kiểm đếm. Định kỳ thứ 2 hàng tuần và ngày cuối tháng kiểm tra lại hàng tồn kho cùng với Kế toán, Thủ kho sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc thất thoát hàng hóa trong kho.

Khoảng tháng 11/2023 đến ngày 29/02/2024, lợi dụng nhiệm vụ Thủ kho của Công ty A1, Võ Văn K đã tự ý xuất dư số lượng hàng hóa so với Phiếu xuất kho nhằm mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để che giấu việc chiếm đoạt hàng hóa (tài sản) của Công ty A1, Kích nói dối với các tài xế xe tải Trần Tuấn K1 và Huỳnh Thái H1 là “chú bị mất hàng hoá nhiều quá, chú kiểm kho cái này dư ra, nhờ con bán giùm”. Vì là chỗ đồng nghiệp làm chung nên K1 và H1 đồng ý chuyển hàng hoá lên xe và đem bán giùm và đưa tiền cho Võ Văn K. Bằng thủ đoạn này Võ Văn K đã chiếm đoạt của Công ty A1 thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon và 40 thùng bia SAIGON EXPORT loại 12 lon.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 06 tháng 7 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận như sau: Giá trị 45 thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon là 11.295.000 đồng và giá trị 40 thùng bia SAIGON EXPORT loại 12 lon là 4.280.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 15.575.000 đồng.

Kết quả điều tra đã chứng minh được hành vi chiếm đoạt số lượng hàng hóa nêu trên của Võ Văn K, cụ thể như sau:

1/. Võ Văn K đã chiếm đoạt hàng hóa và nhờ Trần Tuấn K1 bán 03 lần (không nhớ rõ thời gian của từng lần):

  • + Lần thứ nhất: Bán 10 (mười) thùng bia SAIGON LAGER với giá 2.300.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 2.510.000đồng);

  • + Lần thứ hai: Bán 05 (năm) thùng bia SAIGON LAGER với giá 1.250.000đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 1.255.000đồng);

  • + Lần thứ ba: Bán 20 (hai mươi) thùng bia SAIGON EXPORT (xuất khẩu đỏ) loại 12 lon với giá 1.800.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 2.140.000đồng).

Tổng giá trị hàng hóa K1 đã bán và đưa tiền cho K là 5.350.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 5.905.000đồng).

2/. Võ Văn K đã chiếm đoạt hàng hóa và nhờ Huỳnh Thái H1 bán 05 lần (không nhớ rõ thời gian của từng lần):

  • + Lần thứ nhất: Bán 05 (năm) thùng bia SAIGON LAGER với giá 1.200.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 1.255.000đồng);

  • + Lần thứ hai: Bán 05 (năm) thùng bia SAIGON LAGER với giá 1.200.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 1.255.000 đồng);

  • + Lần thứ ba: Bán 10 (mười) thùng bia SAIGON LAGER với giá 2.300.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 2.510.000đồng);

  • + Lần thứ tư: Bán 10 (mười) thùng bia SAIGON LAGER với giá 2.300.000đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 2.510.000đồng);

  • + Lần thứ năm: Bán 20 (hai mươi) thùng bia SAIGON EXPORT (xuất khẩu đỏ) loại 12 lon với giá 2.000.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 2.140.000 đồng).

Tổng giá trị hàng hóa H1 đã bán và đưa tiền cho K là 9.000.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 9.670.000 đồng).

Như vậy, Võ Văn K đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (hàng hóa) của Công ty A1 tổng cộng 08 lần, trong đó 05 lần chiếm đoạt tài sản trị giá trên 02 triệu đồng.

Ngoài ra, việc kiểm kho định kỳ hàng tháng là do Võ Văn K thực hiện nên khi kiểm tra, đối chiếu phát hiện hàng hóa bị thất thoát với số lượng rất lớn nên Công ty A1 đã ra Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với K.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 34/KL-HĐĐG ngày 30 tháng 5 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận như sau: Tổng giá trị hàng hóa thất thoát của Công ty A1 là 970.312.250 đồng + 10.743.000 đồng = 981.055.250 đồng.

Tuy nhiên, đến ngày 24/5/2024 Công ty A1 kiểm tra hàng hóa trong kho thì phát hiện hàng hóa dôi dư so với Biên bản kiểm tra vào ngày 23/3/2024. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐG ngày 01 tháng 6 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận: Tổng giá trị hàng hóa dư của Công ty A1 là 49.388.000 đồng.

* Ngoài chiếm đoạt tài sản, Võ Văn K còn thiếu kiểm tra thực tế hàng hoá khi ký giao nhận vào Phiếu nhập - xuất kho nên tại thời điểm xuất kho các tài xế Trần Tuấn K1, Huỳnh Thái H1, Nguyễn Tuấn K2, Phan Văn T2, Nguyễn Thái Q và các phụ xế Nguyễn Văn T1, Trương Bảo Sang A, Phạm Văn L đã lén lút lấy trộm hàng hóa của Công ty A1 đưa lên xe tải chở đi bán cho các tiệm tạp hóa trên địa bàn thành phố H và huyện T lấy tiền chia nhau tiêu xài, cụ thể như sau:

- Trần Tuấn K1 lấy trộm hàng hoá khoảng 80 lần kéo dài từ tháng 07/2023 đến tháng 02/2024, không liên tục về mặt thời gian, mỗi lần chiếm đoạt với giá trị tài sản khoảng 500.000 đồng, tài sản đã chiếm đoạt gồm có: 40 (bốn mươi) thùng SAIGON LAGER loại 24 lon; 20 (hai mươi) thùng bia HEINEKEN lon Bạc giới hạn 250ml loại 24 lon; 20 (hai mươi) thùng nước giải khát Sting dâu nhựa loại 24 chai; 01 (một) thùng nước giải khát Trà Xanh không Độ 455ml loại 24 chai; 20 (hai mươi) thùng nước giải khát Pét Vàng (NUMBER 1) 330ml loại 24 chai và 25 (hai mươi lăm) thùng mì tôm chua cay 3 Miền loại 30 gói. Tổng số tiền Trần Tuấn K1 bán tài sản thu được là 20.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 47/KL-HĐĐG ngày 07/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận: Giá trị 40 (bốn mươi) thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon là 10.040.000 đồng; Giá trị 20 (hai mươi) thùng bia HEINEKEN Lon Bạc giới hạn 250ml loại 24 lon là 6.700.000 đồng; Giá trị 20 (hai mươi) thùng nước giải khát Sting dâu nhựa loại 24 chai là 3.600.000 đồng; Giá trị 01 (Một) thùng nước giải khát T Không Độ 455ml loại 24 chai là 185.000 đồng; Giá trị 20 (hai mươi) thùng nước giải khát Pét Vàng (NUMBER 1) 330ml loại 24 chai là 3.800.000 đồng và giá trị 25 (hai mươi lăm) thùng mì tôm chua cay 3 Miền loại 30 gói là 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 26.325.000 đồng.

- Huỳnh Thái H1 lấy trộm hàng hoá khoảng 14 lần kéo dài từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024, không liên tục về mặt thời gian, mỗi lần chiếm đoạt với giá trị tài sản khoảng 300.000 đồng. Tài sản đã chiếm đoạt gồm có: 10 (mười) thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon; 03 (ba) thùng HEINEKEN lon bạc giới hạn 250ml loại 24 lon; 40 (bốn mươi) thùng nước suối Number 1 loại 24 chai; 20 (hai mươi) thùng mì tôm chua cay 3 Miền loại 30 gói; 02 (hai) thùng mì tôm chua cay 3 Miền loại 100 gói; 06 (sáu) thùng nước giải khát Pét vàng (Number 1) 330 loại 24 chai; 02 (hai) thùng Tiger bạc lon 250ml loại 24 lon và 01 (một) thùng Tiger Nâu lon cao loại 24 lon. Tổng số tiền Huỳnh Thái H1 bán tài sản thu được là 5.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 48/KL-HĐĐG ngày 08/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận: Giá trị 10 (mười) thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon là 2.510.000 đồng; Giá trị 03 (ba) thùng bia HEINEKEN Lon Bạc giới hạn 250ml loại 24 lon là 1.005.000 đồng; Giá trị 01 (một) thùng bia Tiger Nâu lon cao loại 24 lon là 335.000 đồng; Giá trị 02 (hai) thùng bia Tiger bạc lon 250ml loại 24 lon là 576.000 đồng; Giá trị 06 (sáu) thùng nước giải khát Pét Vàng (NUMBER 1) 330ml loại 24 chai là 1.140.000 đồng; Giá trị 40 (bốn mươi) thùng nước suối NUMBER 1 loại 24 chai là 2.320.000 đồng; Giá trị 02 (hai) thùng mì tôm chua cay 3 Miền loại 100 gói là 506.000 đồng và Giá trị 20 (hai mươi) thùng mì tôm chua cay 3 Miền loại 30 gói là 1.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 9.992.000 đồng.

- Nguyễn Văn T1 cùng với Trần Tuấn K1, Huỳnh Thái H1 lấy trộm hang hóa 18 lần (T1 cùng với K1 lấy trộm 15 lần và cùng với H1 lấy trộm 03 lần) kéo dài từ tháng 11/2023 đến tháng 02/2024, tài sản đã chiếm đoạt gồm: 07 (bảy) thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon; 02 (hai) thùng HEINEKEN lon bạc giới hạn 250ml loại 24 lon; 05 (năm) thùng nước giải khát Pét vàng (Number 1) 330 loại 24 chai; 27 (hai mươi bảy) thùng mì tôm chua cay 3 Miền loại 30 gói; 02 (hai) thùng nước giải khát Sting dâu nhựa loại 24 chai; 01 (một) thùng nước giải khát Trà Xanh không Độ 455ml loại 24 chai; 02 (hai) thùng Tiger bạc lon 250ml loại 24 lon và 01 (một) thùng Tiger Nâu lon cao loại 24 lon; 03 (ba) thùng nước suối Number 1 loại 24 chai. Tổng số tiền T1, K1, H1 bán tài sản thu được là 8.900.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 9.230.000 đồng). Ngoài ra, T1 còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

  • + T1 cùng với Nguyễn Tuấn K2 lấy trộm 01 (một) thùng bia SAIGON LAGER, bán được là 250.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 251.000 đồng);

  • + T1 cùng với Phan Văn T2 lấy trộm 03 (ba) thùng bia SAIGON LAGER, 02 (hai) thùng nước giải khát COCA COLA vị nguyên bản loại 24 lon, bán được là 900.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 1.113.000 đồng);

  • + T1 cùng với Nguyễn Thái Q lấy trộm 02 (hai) thùng bia HEINEKEN lon bạc giới hạn 250ml, loại 24 lon, bán được là 600.000 đồng (giá trị tài sản thực tế của Hội đồng định giá là 670.000 đồng).

=>Tổng số tiền T1, K2, T2, Quốc bán tài sản thu được là 1.750.000 đồng. Tổng giá trị tài sản T1, K2, T2, Q trộm cắp là 2.034.000 đồng.

- Trong khoảng từ ngày 01/3/2024 đến 31/3/2024, Trương Bảo Sang A và Phạm Văn L lấy trộm hàng hoá của Công ty A1 03 lần:

  • + Lần thứ nhất: Lấy trộm 01 (một) thùng BONCHA Việt Quất loại 24 chai, bán được là 150.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 182.000 đồng).

  • + Lần thứ hai: Lấy trộm 01 (một) thùng nước giải khát Trà xanh không độ 455ml loại 24 chai; 01 (một) thùng nước giải khát Pét Vàng (NUMBER 1) 330ml loại 24 chai, bán được là 300.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 375.000 đồng).

  • + Lần thứ ba: Lấy trộm 01 (một) thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon, bán được là 230.000 đồng (giá trị thực tế theo kết luận của Hội đồng định giá là 251.000 đồng).

=>Tổng số tiền Sang A và L bán tài sản thu được là 680.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Sang A và L trộm cắp là 808.000 đồng.

Tổng giá trị hang hóa các đồi tượng Trần Tuấn K1, Huỳnh Thái H1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Tuấn K2, Phan Văn T2, Nguyễn Thái Q, Trương Bảo Sang A và Trương Văn L1 đã lấy trộm là 39.159.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản của Công ty A1 bị thiệt hại là 892.508.250 đồng (981.055.025 đồng - 49.388.000 đồng giá trị hàng hóa dôi dư - 39.159.000 đồng giá trị hàng hóa bị các đối tượng lấy trộm).

- Việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Không có.

- Việc phong tỏa tài khoản: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh phong tỏa số tiền 1.796.494 đồng trong tài khoản của bị cáo Võ Văn K tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á - Chi nhánh tỉnh Đ - Phòng G để bảo đảm thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Võ Văn T là người đại diện theo ủy quyền của Công ty A1 có yêu cầu như sau:

  • + Yêu cầu bị cáo Võ Văn K bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty A1 với tổng số tiền là 892.508.250 đồng nhưng khấu trừ đi 37.000.000 đồng mà Võ Văn K đã hoàn trả trước đó còn phải bồi thường 855.508.250 đồng, bao gồm: 15.575.000 đồng do thực hiện hành vi tham ô tài sản và 839.933.250 đồng do để xảy ra thất thoát hàng hóa trong quá trình quản lý kho.

  • + Yêu cầu các đương sự Trần Tuấn K1, Huỳnh Thái H1, Nguyễn Tuấn K2, Phan Văn T2, Nguyễn Thái Q, Nguyễn Văn T1, Trương Bảo Sang A, Phạm Văn L bồi thường thiệt hại cho Công ty A1 với tổng số tiền là 39.159.000 đồng.

- Bị cáo Võ Văn K thống nhất bồi thường cho Công ty TNHH A1 số tiền 855.508.250 đồng, bao gồm: 15.575.000 đồng do thực hiện hành vi tham ô tài sản và 839.933.250 đồng do để xảy ra thất thoát hàng hóa trong quá trình quản lý kho. Tuy nhiên, cho đến nay bị cáo Võ Văn K chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty A1.

Các đương sự Trần Tuấn K1, Huỳnh Thái H1, Nguyễn Tuấn K2, Phan Văn T2, Nguyễn Thái Q, Nguyễn Văn T1, Trương Bảo Sang A, Phạm Văn L thống nhất bồi thường cho Công ty A1 số tiền là 39.159.000đồng. Trong đó: Trần Tuấn K1 bồi thường 20.000.000đồng; Huỳnh Thái H1 bồi thường 9.092.000 đồng; Phan Văn T2 bồi thường 560.000 đồng; Nguyễn Thái Q bồi thường 370.000 đồng; Nguyễn Văn T1 bồi thường 8.204.000đồng; Nguyễn Tuấn K2 bồi thường 125.000đồng; Trương Bảo Sang A và Phạm Văn L bồi thường 808.000đồng.

Trong giai đoạn truy tố, Trần Tuấn K1 đã bồi thường số tiền 10.466.000 đồng, còn lại 9.534.000 đồng; Huỳnh Thái H1 đã bồi thường đủ số tiền 9.092.000đồng; Nguyễn Thái Q bồi thường số tiền 670.000đồng (bồi thường thay cho Nguyễn Văn T1 300.000đồng); Nguyễn Tuấn K2 đã bồi thường số tiền 251.000 đồng (bồi thường thay cho Nguyễn Văn T1 126.000đồng); Nguyễn Văn T1 đã bồi thường số tiền 1.300.000đồng + 426.000đồng của Q và K2 bồi thường thay, còn lại 6.478.000đồng; Trương Bảo Sang A và Phạm Văn L đã bồi thường đủ số tiền 808.000đồng, riêng Phan Văn T2 chưa bồi thường số tiền 560.000đồng. Tổng số tiền các đương sự đã bồi thường cho Công ty A1 là 22.587.000đồng, số tiền còn lại chưa bồi thường là 16.572.000đồng.

Trong quá trình điều tra, Võ Văn K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSTPHN ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự truy tố bị cáo Võ Văn K về tội: “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Võ Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn K từ 4 năm đến 6 năm tù.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 360, 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị Tòa án tuyên.

    • + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Võ Văn K. Bị cáo Võ Văn K có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH A1 số tiền 855.508.250đồng (gồm có 15.575.000 đồng do thực hiện hành vi chiếm đoạt và 839.933.250 đồng do làm thất thoát hàng hóa).

    • + Công nhận sự tự nguyện của các đương sự Trần Tuấn K1, Phan Văn T2, Nguyễn Văn T1, các đương sự này có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH A1 số tiền 16.572.000đồng. Trong đó: Trần Tuấn K1 bồi thường 9.534.000đồng; Phan Văn T2 bồi thường 560.000đồng; Nguyễn Văn T1 bồi thường 6.478.000đồng.

  • - Về tài khoản phong tỏa: căn cứ Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tiếp tục phong tỏa số tiền 1.796.494đồng trong tài khoản của bị cáo Võ Văn K tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á - Chi nhánh tỉnh Đ - Phòng G để đảm bảo thi hành án.

  • - Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu và chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Võ Văn K thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tài liệu và chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Từ khoảng tháng 11/2023 đến ngày 29/02/2024, lợi dụng nhiệm vụ Thủ kho của Công ty A1, Võ Văn K đã tự ý xuất dư số lượng hàng hóa so với Phiếu xuất kho nhằm mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bằng thủ đoạn này Võ Văn K đã chiếm đoạt của Công ty A1 thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon và 40 thùng bia SAIGON EXPORT loại 12 lon. Tại bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 06 tháng 7 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận như sau: Giá trị 45 thùng bia SAIGON LAGER loại 24 lon là 11.295.000 đồng và giá trị 40 thùng bia SAIGON EXPORT loại 12 lon là 4.280.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 15.575.000 đồng và làm thất thoát hàng hoá của công ty A1 trị giá 839.933.250 đồng.

[3] Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo, lời khai của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ để kết luận: Hành vi của bị cáo Võ Văn K đã phạm vào tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Điều 353: Tội Tham ô tài sản:

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ...

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra: Xét thấy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ.

[5] Về nhân thân của bị cáo: Ngày 26/3/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/4/2019. Lẽ ra bị cáo phải thấy được lỗi lầm của mình sau khi ra tù để làm người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội, nhưng bị cáo lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Bị cáo Võ Văn K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thành tích xuất sắc trong công tác (03 năm liền được tặng Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở khi công tác tại Kho bạc H) nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại các điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo Võ Văn K có cha ruột được tặng Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng, Huân chương độc lập hạng ba; Bằng khen của Bộ trưởng bộ L2; bị cáo được Bộ trưởng bộ T5 tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp tài chính Việt Nam, được Kho bạc nhà nước tỉnh Đ tặng nhiều giấy khen nên bị cáo được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết tăng nặng: Không.

[7] Đối với Trần Tuấn K1 và Huỳnh Thái H1: các đối tượng này có hành vi mang hàng hóa do bị cáo Võ Văn K chiếm đoạt của Công ty A1 đi bán và nhận tiền mang về đưa cho K. Tuy nhiên, K1 và H1 không biết việc K tự ý xuất kho hàng hoá nhiều hơn số lượng so với Phiếu xuất kho để chiếm đoạt bán lấy tiền; K1 và H1 không bàn bạc hoặc thỏa thuận việc giúp K chiếm đoạt tài sản của Công ty A1, sau khi bán được hàng hóa của K gửi thì K1 và H1 đã đưa toàn bộ số tiền bán hàng hóa cho K, không được lợi ích vật chất gì từ K nên K1 và H1 không đồng phạm với K về tội tham ô tài sản. Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với Trần Tuấn K1, Huỳnh Thái H1, Nguyễn Tuấn K2, Phan Văn T2 và Nguyễn Thái Q, Nguyễn Văn T1, Trương Bảo Sang A, Phạm Văn L: Các đối tượng này đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp hàng hóa của Công ty A1 mang đi bán lấy tiền tiêu xài, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 39.159.000 đồng, nhưng mỗi lần trộm cắp tài sản trị giá chỉ từ 150.000 đồng - 600.000 đồng và thực hiện không liên tục và kế tiếp nhau về mặt thời gian nên hành vi của Trần Tuấn K1, Huỳnh Thái H1, Nguyễn Tuấn K2, Phan Văn T2, Nguyễn Thái Q, Nguyễn Văn T1, Trương Bảo Sang A, Phạm Văn L không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách và chuyển hồ sơ đến Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính theo luật định. Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với hành vi làm thất thoát hàng hóa của của Công ty A1 có tổng trị giá là 879.092.250 đồng của bị cáo Võ Văn K: Với nhiệm vụ là Thủ kho, K có trách nhiệm quản lý hàng hóa trong kho và bồi thường thiệt hại nếu để xảy ra thất thoát. Quá trình điều tra đã chứng minh được các Tài xế và phụ xế đã trộm cắp số lượng hàng hóa trị giá 39.159.000 đồng, số lượng hàng hóa thất thoát còn lại trị giá 839.933.250 đồng không chứng minh được nguyên nhân gây thất thoát, bị cáo K không có sự bất minh về tài sản nên không xem xét xử lý K về hành vi “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp” nhưng K phải bồi thường cho Công ty A1 giá trị hàng hóa bị thất thoát là 839.933.250 đồng. Cơ quan điều tra tách và chuyển hồ sơ liên quan đến hành vi gây thiệt hại về tài sản của K đến Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính theo luật định. Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Đối với các chủ tiệm tạp hoá: trước và trong khi mua hàng hóa, họ không biết đây là tài sản do bị cáo K và các đối tượng có liên quan chiếm đoạt của Công ty A1 nên không xem xét xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát cho rằng do bị cáo có nhiều tình tiết giãm nhẹ theo quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 4 năm đến 6 năm tù. Xét thấy, căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội, có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[12] Về trách nhiệm dân sự:

  • + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Võ Văn K. Bị cáo Võ Văn K có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH A1 số tiền 855.508.250đồng (gồm có 15.575.000 đồng do thực hiện hành vi chiếm đoạt và 839.933.250 đồng do làm thất thoát hàng hóa).

  • + Công nhận sự tự nguyện của các đương sự Trần Tuấn K1, Phan Văn T2, Nguyễn Văn T1, các đương sự này có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH A1 số tiền 16.572.000đồng. Trong đó: Trần Tuấn K1 bồi thường 9.534.000đồng; Phan Văn T2 bồi thường 560.000đồng; Nguyễn Văn T1 bồi thường 6.478.000đồng.

[13] Về tài khoản phong tỏa: căn cứ Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tiếp tục phong tỏa số tiền 1.796.494đồng trong tài khoản của bị cáo Võ Văn K tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á - Chi nhánh tỉnh Đ - Phòng G để đảm bảo thi hành án.

[14] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[15] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • - Tuyên bố bị cáo Võ Văn K phạm tội “Tham ô tài sản”.

  • - Xử phạt bị cáo Võ Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 08/8/2024).

2/ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự.

  • + Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Võ Văn K. Bị cáo Võ Văn K có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH A1 số tiền 855.508.250đồng (gồm có 15.575.000 đồng do thực hiện hành vi chiếm đoạt và 839.933.250 đồng do làm thất thoát hàng hóa).

  • + Công nhận sự tự nguyện của các đương sự Trần Tuấn K1, Phan Văn T2, Nguyễn Văn T1, các đương sự này có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH A1 số tiền 16.572.000đồng. Trong đó: Trần Tuấn K1 bồi thường 9.534.000đồng; Phan Văn T2 bồi thường 560.000đồng; Nguyễn Văn T1 bồi thường 6.478.000đồng.

3/ Về tài khoản phong tỏa: căn cứ Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiếp tục phong tỏa số tiền 1.796.494đồng trong tài khoản của bị cáo Võ Văn K tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á - Chi nhánh tỉnh Đ - Phòng G để đảm bảo thi hành án.

4/ Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • - Buộc bị cáo Võ Văn K phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  • - Buộc bị cáo Võ Văn K nộp 37.665.000₫ (Ba mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  • - Buộc các đương sự Trần Tuấn K1, Phan Văn T2, Nguyễn Văn T1 mỗi người phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2025). Riêng những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Duy H4 - Nguyễn Trần QuyếtHuỳnh Thanh Tâm
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đồng Tháp;THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;Huỳnh Thanh Tâm
- VKSND thành phố Hồng Ngự;
- Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Phân trại Tạm giam khu vực thành phố Hồng Ngự;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP về tham ô tài sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Kích tham ô tài sản của Công ty TNHH Á
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger