|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:19/2025/HS-ST Ngày 11 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Nguyễn Thị Thuý Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Hằng - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:18/2025/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:17/2025 /QĐXXST - HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Hoàng S, sinh năm 1957;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hoàng H và bà Phùng Thị Kim M (Đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị V, con: có 02 con lớn sinh năm1985, nhỏ sinh năm 1990 ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại tại địa phương (có mặt).
Bị hại: Công ty Cổ phần Đ, địa chỉ: Phường N, Quận C, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1998, trú tại Thôn G, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 9/2024, Đỗ Hoàng S có ý định cải tạo sân nhà thờ và sân ngôi nhà 5 tầng của S tại Tổ dân phố V, phường N Trong khoảng thời gian này, S đi qua tuyến đường N đoạn từ đường sắt Lý Thái T1 đi hướng ngã tư T phường T, thành phố V, S thấy phía trên vỉa hè hai bên đường và gầm cầu vượt đường sắt đang thi công có nhiều kiện balet để nhiều viên đá tự nhiên kích thước (30x60x4)cm không có người trông giữ số tài sản này nên S nảy sinh ý dịnh lấy trộm loại đá này đem về lát sân. S biết nếu lấy nhiều viên đá một lúc sẽ bị đơn vị thi công đường phát hiện nên sẽ lấy trộm tài sản vào các khung giờ vắng người qua lại khoảng từ 04 đến 05 giờ sáng và từ 20 giờ đến 22 giờ tối. Hàng ngày, S điều khiển xe máy điện BKS: 88MĐ1-042.04 nhãn hiện YADEA, màu đỏ đem theo 01 mảnh tải màu trắng đi từ nhà ở phường N, thành phố V đến tuyến đường N thuộc tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V lấy trộm đá lát. Khi đến gần các kiện đá, S quan sát xung quanh không có người trông coi sẽ dùng 2 tay bê từng viên đá đặt lên vị trí để chân của xe máy điện, lấy được khoảng 4 - 5 viên thì dùng mảnh tải trắng che lại rồi chở về nhà, mỗi ngày S thường đi 3-4 chuyến liền và lấy trộm được khoảng 15-20 viên. Khoảng 20 giờ 08 phút, 21 giờ 08 phút, và 21 giờ 37 phút ngày 15/10/2024 và 05 giờ 34 phút ngày 16/10/2024, S tiếp tục một mình đi xe máy điện BKS: 88MĐ1- 042.02 từ nhà ở N đến khu vực 2 kiện đá balet, màu trắng xám, kích thước (30x60x4)cm để trên vỉa hè đường N trước cổng Khách sạn O thuộc Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V mang về nhà.
Cùng ngày 16/10/2024, anh Nguyễn Thanh T là nhân viên kỹ thuật hiện trường Công ty Cổ phần Đ, địa chỉ: Phường N, Quận C, Thành phố Hà Nội (chủ sở hữu số đá trên) phát hiện bị mất tài sản nên đã đến Cơ quan Công an để trình báo vụ việc. Cơ quan điều tra đã thu thập hình ảnh từ Camera an ninh của khách sạn O phát hiện đối tượng Đỗ Hoàng S và triệu tập S lên làm việc, tại Cơ quan điều tra S đã thừa nhận hành vi phạm tội. Cùng ngày, Cơ quan Công an đã đến nơi ở của S tại tổ dân phố V, phường N, thành phố V để làm việc và thu giữ: 01 xe máy điện màu đỏ, đen nhãn hiệu YADEA, BKS: 88MĐ1- 042.04; 409 viên đá tự nhiên màu trắng xám, kích thước (30x60x4)cm đã được lát dưới nền sân và 24 viên đá tự nhiên màu trắng xám kích thước (30x60x4)cm, 05 viên đá tự nhiên kích thước (30x30x4)cm đang để trên mặt nền sân, S khai nhận toàn bộ số đá trên là do trộm cắp được trên tuyến đường N trong khoảng thời gian từ ngày 23/09/2024 đến ngày 16/10/2024.
Tại Kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐG ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố V kết luận: 433 viên đá tự nhiên màu trắng xám kích thước (30x60x4)cm trị giá 23.382.000₫ và 05 viên đá tự nhiên kích thước (30x30x4)cm trị giá 135.000đ. Tổng trị giá tài sản là 23.517.000₫.
Ngày 11/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với: 04 đoạn thời gian trên video gồm 20h08'; 21h08' và 21h37' ngày 15/10/2024 và 05h43' ngày 16/10/2024 thu giữ tại Camera an ninh của khách sạn O, được lưu trữ trong 01 chiếc USB màu bạc niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1. Tại bản Kết luận giám định số 3453/KL- KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Chụp được 16 ảnh theo yêu cầu giám định đồng thời sao lưu các tệp video ra đĩa DVD. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V cho S xem 16 hình ảnh trên, S khẳng định hình ảnh người đàn ông đi xe máy điện màu đỏ trong 16 bức ảnh trên là S khi đang thực hiện hành vi trộm cắp đá tại khu vực tuyến đường N từ 23/9/2024 đến 16/10/2024.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT - VKSVY ngày 13 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo Đỗ Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối với bị cáo; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo S từ 10 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 08 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe máy điện biển kiểm soát: 88MĐ1 – 042.04 là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra đều trình bày các nội dung phù hợp lời trình bày của bị cáo.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án bị hại vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 23/09/2024 đến ngày 16/10/2024, tại khu vực vỉa hè hai bên đường gầm cầu vượt đường sắt trên tuyến đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Đỗ Hoàng S đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản lén lút thực hiện hành vi trộm cắp của Công ty Cổ phần Đ viên đá tự nhiên màu trắng xám kích thước (30x60x4)cm và 05 viên đá tự nhiên kích thước (30x30x4)cm. Trị giá tài sản bị trộm cắp theo kết luận định giá là 23.517.000đ.
Hành vi phạm tội như đã nêu trên của bị cáo S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù nên thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Bị cáo có trình độ văn hóa nhưng thiếu tu dưỡng bản thân nên khi thấy Công ty Cổ phần Đ trong quá trình quản lý tài sản đã nảy lòng tham lén lút thực hiện hành vi trộm cắp của Công ty Cổ phần Đ viên đá tự nhiên trị giá 23.517.000đ, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để làm gương cho người khác. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhất thời phạm tội, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự năm 2015.
Từ phân tích trên thấy rằng: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, lần đầu bị đưa ra xét xử, có thời gian phục vụ trong quân đội, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, vì vậy cần áp dụng chính sách khoan hồng của Nhà nước cho bị cáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Xét thấy bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Đối với bà Nguyễn Thị V là vợ của bị cáo S, việc bị cáo trộm cắp tài sản bà không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với 433 viên đá tự nhiên màu trắng xám kích thước (30x60x4)cm và 05 viên đá tự nhiên kích thước (30x30x4)cm là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã trả lại toàn bộ số đá trên cho Công ty là có căn cứ.
[8] Đối với 01 xe máy điện màu đỏ, đen nhãn hiệu YADEA, BKS: 88MĐ1- 042.04; là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Xét thấy tại phiên toà bị cáo đề nghị miễn tiền án phí hình sự sư thẩm cho bị cáo, xét thấy bị cáo là người cáo tuổi nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 47; Khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng S 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Hoàng S cho UBND phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 xe máy điện màu đỏ, đen nhãn hiệu YADEA, BKS: 88MĐ1- 042.04, (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 3 năm 2025).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đỗ Hoàng S.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đỗ Minh Ái |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Hoàng S phạm tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 173
