Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 09 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và bà Vũ Thị Nữ.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nông Ngọc Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đối với các bị cáo:

1. HỒ TRUNG N (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1978 tại Quảng Nam;

Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Hồ L (đã chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1948;

Gia đình có 09 anh em; bị cáo là con thứ năm;

Vợ: Lê Nữ Hồng H, sinh năm: 1982. Có 03 con, con lớn sinh năm: 2001, con nhỏ sinh năm: 2005.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 25/12/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án số: 128/2007/HS-PT. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ ngày 04/9/2024; chuyển sang tạm giam ngày 13/9/2024; được trả tự do ngày 08/11/2024. Hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

2. HỒ TRUNG T (Tên gọi khác: R), sinh năm: 2001 tại Bình Thuận;

Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Hồ Trung N, sinh năm: 1978 và bà Lê Nữ Hồng H, sinh năm: 1982;

Gia đình có 03 anh em; bị cáo là con thứ nhất;

Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/10/2024.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Trung C, sinh năm: 1981; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8/2024, Hồ Trung N, sinh năm 1978 và vợ là Lê Nữ Hồng H, sinh năm 1982 (cùng trú tại: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, H thông qua mạng xã hội quen biết với Nguyễn Trung C, sinh năm 1981 (trú tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận). Đến ngày 19/8/2024, bà H đến thuê phòng trọ số E nhà T thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận để sống chung như vợ chồng với C.

Đến khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 03/9/2024, Hồ Trung T, sinh năm 2001 (trú tại: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận – là con ruột của N và H) tìm hiểu biết H đang sống cùng C tại thị trấn T và nói cho N biết. Ngay sau đó, N điều khiển xe mô tô chở T đến quán bán hủ tiếu của C tại Khu phố A, thị trấn T, huyện H, yêu cầu C dẫn đến nơi ở của H, C đồng ý lên xe chỉ dẫn N và T đến phòng trọ H. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, đến nhà trọ G, C đi đến phòng số 05 gọi, khi H ra mở cửa thì N đẩy C và H vào trong phòng rồi khép hờ cửa lại, N chửi bới, dùng tay đánh 03 - 04 cái vào vùng vai H (không gây thương tích), T cũng chửi C và lấy điện thoại ra quay video, đồng thời nói với C sẽ đăng video lên mạng xã hội cho mọi người xem, N thì nói sẽ báo Công an xử lý hành vi quan hệ bất chính của ông C với bà H, rồi yêu cầu ông C đưa điện thoại của C cho N, mục đích để kiểm tra hình ảnh, tin nhắn trong điện thoại liên quan đến việc ngoại tình của H. Do sợ bị đăng lên mạng xã hội ảnh hưởng đến danh dự cá nhân nên C tự đưa điện thoại di động hiệu Samsung A15 cho N, N bỏ điện thoại vào trong túi quần, tiếp đến yêu cầu C đưa túi đang đeo trên người, mục đích tìm lấy giấy tờ cá nhân của C để đi tố cáo với cơ quan Công an, Ngộ mở túi thấy 01 ví tiền bằng vải, màu đen và trắng, N mở ví lấy hết tiền bên trong ví trả lại cho C, giữ lại ví có các giấy tờ cá nhân của C gồm 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B5 – 316.20, 02 thẻ bảo hiểm y tế, 01 phiếu hướng dẫn thanh toán trả góp và 01 biên lai thu hộ trả góp; rồi N nói Trọng gom đồ đạc của H ra khỏi phòng để chở về nhà. Do vẫn bực tức C, N và T tiếp tục bắt C đi ra khỏi phòng quỳ gối tại hành lang trước phòng trọ số 05 xin lỗi Ngộ, xong N nói H lên xe Ngộ điều khiển chở về nhà tại Khu phố A, thị trấn T; C đóng khóa cửa phòng trọ rồi về nhà nằm ngủ.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, N mang điện thoại di động hiệu Samsung A15 (lấy của C trước đó) đến cửa hàng điện thoại của Lê Hữu M, sinh năm 1990 (HKTT: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) để nhờ mở mật khẩu. Cùng thời điểm, Nguyễn Trung C biết N không trả lại điện thoại và ví giấy tờ nên đã đến Công an thị trấn T trình báo sự việc. Ngay sau đó, Hồ Trung N và Hồ Trung T đến Cơ quan CSĐT Công an huyện H trình diện, khai nhận hành vi và giao nộp tài sản đã lấy của Nguyễn Trung C.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 45 ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A15, màn hình cảm ứng (đã qua sử dụng), tại thời điểm định giá ngày 03/9/2024 có giá trị là 2.433.333 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 01 ví tiền bằng vải, màu đen và trắng (đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá ngày 03/9/2024 có giá trị là 50.000 đồng.

Quá trình điều tra, Hồ Trung N và Hồ Trung T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung A15 màu vàng, màn hình cảm ứng; 01 ví tiền bằng vải, màu đen trắng; các giấy tờ mang tên Nguyễn Trung C gồm: 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B5 – 316.20, 02 thẻ bảo hiểm y tế, 01 phiếu hướng dẫn thanh toán trả góp và 01 biên lai thu hộ trả góp. Đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Trung C;
  • - 02 đĩa DVD và 01 USB (bên trong chứa video vụ việc). Chuyển kèm theo hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

Về phần dân sự: Nguyễn Trung C đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản nhưng yêu cầu Hồ Trung N và Hồ Trung T bồi thường số tiền 5.000.000 đồng tổn thất tinh thần; N và T đã tự nguyện bồi thường đủ số tiền 5.000.000 đồng cho Nguyễn Trung C. Ông C đã có đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt về hình sự cho N và T.

Tại Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 07/3/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Hồ Trung N và bị cáo Hồ Trung T về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Quá trình tranh luận đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Hồ Trung N và Hồ Trung Trọng phạm T1 “Cưỡng đoạt tài sản” như nội dung Cáo trạng đã truy tố, đồng thời xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Trung N từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Trung N từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân; thống nhất với nội dung và tội danh mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ý kiến của bị hại: Bị hại thừa nhận nguyên nhân xảy ra vụ án có một phần lỗi của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử, thấy rằng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của phía bị hại, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Bị cáo Hồ Trung N và bị cáo Hồ Trung T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác vi phạm pháp luật nhưng vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/9/2024, tại Phòng trọ số E nhà T thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, Hồ Trung N và Hồ Trung T đã có hành vi đe dọa sẽ tố cáo với cơ quan Công an và quay video đăng lên mạng xã hội việc Nguyễn Trung C có quan hệ bất chính với bà Lê Nữ Hồng H là vợ của N để gây sức ép về mặt tinh thần buộc Nguyễn Trung C đưa 01 điện thoại di động hiệu Samsung A15 màu vàng, trị giá 2.433.333 đồng và 01 ví tiền bằng vải, màu đen trắng, trị giá 50.000 đồng để chiếm đoạt. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được luật hình sự bảo vệ nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố các bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo cố ý cùng thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản nhưng không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ, không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn; trong đó, bị cáo N là người thực hành tích cực, trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại, còn bị cáo Trọng giữ vai trò là người giúp sức. Tuy nhiên, động cơ phạm tội của các bị cáo không phải nhằm chiếm đoạt tài sản để dùng vào mục đích cá nhân mà sử dụng các tài sản này làm chứng cứ để tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bị hại nên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét tình tiết này để lượng hình cho phù hợp.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo N có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội cố ý gây thương tích, đối với bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; ngoài ra, nguyên nhân xảy ra vụ án cũng có một phần lỗi của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nghĩ nên cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Trong vụ án này, bị cáo N là người thực hành, trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại; hơn nữa, bị cáo N có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội cố ý gây thương tích nhưng bị cáo không có ý thức tuân thủ pháp luật mà còn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nên cần cách ly bị cáo N ra khỏi xã hội trong thời gian nhất định mới răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Đối với bị cáo T là người giúp sức, tham gia với vai trò thứ yếu, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nghĩ nên cần căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Ngoài ra, bản thân bị cáo T có tuổi đời còn trẻ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy bị cáo T có thể tự cải tạo được, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A15 màu vàng, màn hình cảm ứng; 01 ví tiền bằng vải, màu đen trắng; 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B5 – 316.20, 02 thẻ bảo hiểm y tế, 01 phiếu hướng dẫn thanh toán trả góp và 01 biên lai thu hộ trả góp, các giấy tờ trên mang tên Nguyễn Trung C, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H đã trả lại cho ông là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với 02 đĩa DVD và 01 USB (bên trong chứa video vụ việc), cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã nhận số tiền bồi thường là 5.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Trung N và bị cáo Hồ Trung T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 170, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Trung N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến ngày 08/11/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 170, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 3 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Trung T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án (09/4/2025).

Giao bị cáo Hồ Trung T cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người bị phạt tù được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Hồ Trung N và bị cáo Hồ Trung T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/4/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Tân;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Tân;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hữu Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Trung N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger