Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 05/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Tư

Ông Lý Minh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Văn Em - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Trung H, (tên gọi khác: Hậu C), sinh ngày 14/10/1998, tại tỉnh Tiền Giang; CCCD: [...]. Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị T; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Lê Thị Hoàng A, sinh năm 1990 (sống chung như vợ chồng); Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 lần. Bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án số 42/2021/HS-ST ngày 20/10/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/7/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, (Bị cáo có mặt).

Người bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1969 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Chị Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

3. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

4. Anh Huỳnh Thanh T2, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

5. Anh Đỗ Tấn Đ, sinh năm 2004 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, Tp., tỉnh Tiền Giang.

6. Bà Trần Thị N, sinh năm 1960 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

7. Chị Đặng Thị Ngọc M, sinh năm 1994 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

8. Chị Phạm Hoàng O, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Thường trú: Tổ dân phố 1, phường Ninh Hiệp, TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Cư trú: Ấp 1, xã Tân Thanh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

9. Chị Nguyễn Hoàng U, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Thường trú: Tổ dân phố 1, phường Ninh Hiệp, TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Cư trú: Ấp 1, xã Tân Thanh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Ngọc Bảo X, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Thường trú: Ấp Bãi Nhà A, xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.

Cư trú: Ấp 1, xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Trung H có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Do cần tiền tiêu xài nên Huỳnh Trung H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/6/2024, H đã thực hiện 01 vụ cướp tài sản, 03 vụ cướp giật tài sản và 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 03 giờ ngày 19/8/2023, Huỳnh Trung H điều khiển xe mô tô loại Dream không rõ biển số của H đi từ nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C đến xã T, huyện C tìm tài sản để lấy trộm.

Khoảng 4 giờ 20 phút cùng ngày 19/8/2023, khi Huỳnh Trung H đang đi trên đường đan nông thôn thuộc ấp M, xã T, huyện C, thì nhìn thấy bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1969, thường trú ấp M, xã T, huyện C đang chuẩn bị làm đồ ăn sáng để bán, có đeo một sợi dây chuyền vàng, kiểu mắc xích đan xen ống đúc, loại vàng 18k và mặt dây chuyền hình bầu dục ở giữa có chấm đá màu, loại vàng 18k trọng lượng 7,02 chỉ nên H nảy sinh ý định cướp giật dây chuyền của bà T1. Để thực hiện hành vi, H chạy xe mô tô quay lại đậu trên khu vực giữa cầu dây gần đó rồi đi bộ đến, từ phía sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền trên cổ của bà T1 rồi chạy đến chỗ xe mô tô điều khiển xe chạy đi. Đến ngày 20/8/2023, H đem sợi dây chuyền và mặt dây đến tiệm vàng ở thành phố V không rõ bảng hiệu, địa chỉ cụ thể, bán được 8.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 108 ngày 27/9/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng, kiểu mắc xích đan xen ống đúc, loại vàng 18k, mặt dây chuyền hình bầu dục ở giữa có chấm đá màu trọng lượng 7,02 chỉ trị giá 28.782.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án: 01 sợi dây chuyền vàng kiểu mắc xích đan xen ống đúc loại vàng 18k và mặt dây chuyền hình bầu dục ở giữa có chấm đá màu, loại vàng 18k trọng lượng 7,02 chỉ, H đã bán cho tiệm vàng ở thành phố V không rõ bảng hiệu và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Kim T1 yêu cầu Huỳnh Trung H bồi thường số tiền 28.782.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 20/8/2023, Huỳnh Trung H điều khiển xe mô tô loại Dream không rõ biển số của H đi từ nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C đến xã M, huyện C tìm tài sản để lấy trộm.

Khoảng 3 giờ 30 phút ngày 20/8/2023, khi Huỳnh Trung H đi ngang quán cháo của chị Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1987, thường trú ấp M, xã M, huyện C, thì nhìn thấy chị H1 đang chuẩn bị làm đồ ăn sáng để bán, trên cổ chị H1 đeo một vòng vàng đeo cổ (kiềng), loại vàng 18k trọng lượng 05 chỉ nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Để thực hiện hành vi, Hậu đậu xe mô tô ở phía trước nhà của anh Nguyễn Chí Đ1 cách quán chị H1 khoảng 20m, đi bộ vào quán rồi núp sau cái tủ, lợi dụng chị H1 không chú ý H dùng tay trái giật vòng đeo cổ rồi điều khiển xe moto bỏ chạy. Sau đó, H đem vòng vàng đến tiệm vàng ở thành phố V không rõ bảng hiệu, địa chỉ cụ thể bán được 7.800.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 54C ngày 30/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 vòng vàng đeo cổ (kiềng) loại vàng 18k trọng lượng 05 chỉ trị giá 28.000.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án: 01 vòng vàng đeo cổ (kiềng) loại vàng 18k trọng lượng 05 chỉ, H đã bán cho tiệm vàng ở thành phố V không rõ bảng hiệu và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Hồng H1 yêu cầu Huỳnh Trung H bồi thường số tiền 28.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ ba:Vào khoảng 03 giờ ngày 11/9/2023, Huỳnh Trung H điều khiển xe mô tô loại Dream không rõ biển số của H đi từ nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C đến xã M, huyện C tìm tài sản để lấy trộm. Khi chạy ngang nhà chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1973, thường trú ấp M, xã M, huyện C, H nhìn thấy quán cà phê chị D mở cửa nhưng không có người trông giữ nên nảy sinh ý định đi vào quán tìm tài sản trộm cắp. Để thực hiện hành vi, Hậu đậu xe ở phần đất trống cách nhà chị D khoảng 30m rồi đi bộ vào quán, nhìn thấy điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng đang sạc trên đầu tủ nên lấy điện thoại bỏ vào túi quần. Lúc này H thấy chị D đi ra cửa chính nên núp vào cánh cửa, nhìn thấy trên cổ chị D có đeo một sợi dây chuyền vàng 18k đá màu, loại vàng 18k, loại ống đúc, trọng lượng 6,305 chỉ nên lợi dụng lúc chị D quay vào H dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng rồi nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy. Sau đó, H đem sợi dây chuyền đến tiệm vàng ở thành phố V không rõ bảng hiệu, địa chỉ cụ thể bán được 6.200.000 đồng và xài cá nhân hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 83 ngày 11/11/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 18k, loại ống đúc, trọng lượng 6,305 chỉ trị giá 26.102.000 đồng; 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, mua năm 2019 trị giá 2.500.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án: Một sợi dây chuyền vàng 18k, loại ống đúc, trọng lượng 6,305 chỉ, H đã bán cho tiệm vàng ở thành phố V không rõ bảng hiệu và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Đối với 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, sau khi trộm được H để vào túi quần trên đường chạy đi đã làm rơi không rõ ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị D yêu cầu Huỳnh Trung H bồi thường số tiền 28.602.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ tư: Khoảng 03 giờ ngày 14/11/2023, Huỳnh Trung H điều khiển xe mô tô loại xe Dream, không rõ biển số của H đi đến đầu đường tỉnh lộ 863 thuộc xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngồi chơi. Lúc này, H nhìn qua bên đường thấy tiệm sửa xe của anh Huỳnh Thanh T2, sinh năm 1983, ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang đang mở cửa, không người trông giữ nên nảy sinh ý định vào tiệm sửa xe trộm cắp tài sản, nên đi bộ qua đường rồi đi vào bên trong tiệm, đi vào phòng ngủ (không khóa cửa) nhìn thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 của anh T2, 01 điện thoại hiệu Redmin C3 màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Active 3 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu hồng và 01 ví da màu đen trong túi xách để ở trên giường, bên trong ví da có số tiền 170.000 đồng của anh Đỗ Tấn Đ (con anh T2), sinh năm 2004, thường trú ấp P, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. H lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53, 01 điện thoại hiệu Redmin C3 màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Active 3 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu hồng và ví da bên trong có 170.000 đồng cất vào túi xách đeo trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà ở ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Trên đường đi H lấy số tiền 170.000 đồng rồi ném bỏ ví da, 02 điện thoại không rõ đặc điểm, không mở nguồn được H cũng vứt bỏ, còn 02 điện thoại không rõ đặc điểm H bán cho một người không rõ họ tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng toàn bộ số tiền có được H tiêu xài cá nhân hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 54A/KLĐG-TTHS ngày 30/8/2024: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53 tỷ lệ còn lại 40% trị giá 3.000.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Redmin C3, màu xanh tỷ lệ còn lại 20% trị giá 600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Active 3, màu đen, tỷ lệ còn lại 40% trị giá 1.400.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu hồng tỷ lệ còn lại 60% trị giá 1.800.000 đồng; 01 ví nam loại da màu đen không đủ cơ sở định giá. Tổng giá trị là 6.800.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án: 02 điện thoại di động không rõ đặc điểm, H đã bán cho người không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được; 02 điện thoại di động không rõ đặc điểm và 01 ví da H đã ném bỏ không rõ ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu hồi được;

Trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Thanh T2 và anh Đỗ Tấn Đ yêu cầu Huỳnh Trung H bồi thường số tiền 6.800.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ năm: Khoảng 03 giờ ngày 16/01/2024, Huỳnh Trung H điều khiển xe mô tô loại xe Dream, không rõ biển số của H đi từ nhà ở ấp M, xã T, huyện C đến trước nhà bà Trần Thị N, sinh năm 1960, thường trú ấp H, xã H, huyện C thì H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà N trộm cắp tài sản, nên đậu xe mô tô cách nhà bà N khoảng 50m rồi đi vào nhà. Lợi dụng lúc bà N đang ngồi may đồ không chú ý, H lén lút đi vào nhà sau trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 đang để trên thùng loa, H tiếp tục đi vào phòng ngủ của bà N trôm cắp 01 điện thoại di động hiệu Redmi 8 đang để trên bàn cất vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C. Đến khoảng 08 giờ ngày 16/01/2024, H bán 02 điện thoại trộm được cho một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ ở khu vực chợ A1, xã A, huyện C với giá 900.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản xảy ra ngày 30/8/2024: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 trị giá 400.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi 8 trị giá 300.000 đồng. Tổng giá trị là 700.000 đồng.

Tài sản Huỳnh Trung H trộm cắp có giá trị 700.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng), tuy nhiên do H có tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích nên phải chịu trách nhiệm hình sự ở lần phạm tội này.

Vật chứng trong vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi 8, H đã bán cho người không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị N yêu cầu Huỳnh Trung H bồi thường 700.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ sáu: Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 17/02/2024, Huỳnh Trung H điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Dream không rõ biển số của H đi từ nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C đến xã H, huyện C tìm tài sản để trộm cắp, H có đem theo một bình xịt hơi cay mục đích để đe dọa người bị hại. Khi đi ngang nhà chị Đặng Thị Ngọc M, sinh năm 1994, thường trú ấp H, xã H, huyện C, H nhìn thấy chị M đang nằm võng một mình trong nhà nên nảy sinh ý định cướp tài sản của chị M. Đê thực hiện hành vi, Hậu đậu xe mô tô phía trước nhà ông Nguyễn Trường V cách nhà chị M khoảng 05m, rồi đi bộ và trèo qua cổng rào vào nhà chị M, sau đó H cầm bình xịt hơi cay đi đến chỗ chị M khống chế, đe dọa yêu cầu chị M không được truy hô và chống cự, nếu không H xịt hơi cay vào chị M, rồi H dùng tay trái cướp lấy túi xách da màu nâu chị M đang cầm, bên trong có số tiền 16.000.000 đồng, 01 thẻ ATM và 01 thẻ cước công dân. Sau khi cướp được tài sản, H đi đến lấy xe moto chạy về nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C. Tại đây, lấy 01 thẻ ATM, 01 thẻ cước công dân và túi xách đem đi đốt, còn số tiền 16.000.000 đồng đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo công văn số 92/HĐĐG-TTHS ngày 15/11/2024: 01 túi xách da nữ, không rõ hiệu, màu nâu, loại dây đeo chéo, kích thước 10cm x 20cm, không xác định được thời điểm mua và giá trị. Do không đủ các điều kiện cần thiết để tiến hành định giá, tài liệu cung cấp không đầy đủ. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP của chính phủ, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C từ chối thực hiện định giá tài sản.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (Một) đôi dép màu đen, phía trên có chữ “ZX”, phía đế dép có chữ “TRMARTENS” của H bỏ chạy để lại, hiện Cơ quan điều tra đang tạm giữ chờ xử lý. Riêng 01 thẻ căn cước, 01 thẻ ATM và 01 túi xách màu nâu, H đã đem đi đốt nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với xe mô tô hiệu Dream (không rõ biển số) H sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội trong 06 vụ án nêu trên, đã bán xe mô tô loại Dream cho người tên H2 không rõ họ và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Đặng Thị Ngọc M yêu cầu Huỳnh Trung H bồi thường số tiền 16.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ bảy: Khoảng 03 giờ ngày 23/6/2024, Huỳnh Trung H đi bộ từ nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C đến địa bàn xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến quán Ố tại ấp A, xã T, huyện C của chị Nguyễn Hoàng U, sinh năm 1990, thường trú tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, H dùng tay tháo gỡ đoạn kẽm cột cửa rào, sau đó đi đến cửa sau vào trong quán, đi vào phòng ngủ nhìn thấy chị U và chị Phạm Hoàng O, sinh năm 1982, thường trú tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa đang ngủ, trên giường có 01 điện thoại di động hiệu Redmin 12 màu bạc và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04, màu xanh của chị O nên H lấy trộm để vào túi quần bên trái. H thấy một giỏ xách treo trên vách tường, bên trong có 01 điện thoại di động đang sạc pin hiệu Samsung A32, màu xanh của chị U nên gỡ dây sạc lấy trộm điện thoại để vào túi quần bên trái, H tiếp tục đi đến tủ đựng dụng cụ bán nước lấy trộm một hộp giấy đem ra ngoài quán kiểm tra, H thấy máy massage nên không lấy bỏ lại bên hong quán. Sau đó, H đem 03 điện thoại vừa trộm cắp được đi về nhà trọ ở ấp D, xã A, huyện C cất giấu, đến trưa H đem 03 điện thoại trộm được đến tiệm Đ2 bán cho chị Nguyễn Thị Ngọc Bảo X, sinh năm 1998, thường trú ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang được số tiền 2.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản xảy ra ngày 30/8/2024: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 trị giá 3.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmin 12 màu bạc trị giá 3.600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04 trị giá 2.800.000 đồng; 01 máy massage cầm tay màu xanh không rõ hiệu không đủ cơ sở định giá. Tổng giá trị tài sản là 9.900.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32; 01 điện thoại di động hiệu Redmin 12 màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A04, H đã bán cho chị Nguyễn Thị Ngọc Bảo X, sau đó chị X bán lại cho khách hàng không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Đối với 01 máy massage cầm tay màu xanh không rõ hiệu H bỏ lại bên hong quán đã bị mất, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Hoàng O và chị Nguyễn Hoàng U yêu cầu Huỳnh Trung H bồi thường số tiền 9.900.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường. Đối với 01 máy massage cầm tay màu xanh không rõ hiệu chị U không yêu cầu bồi thường

Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc Bảo X không biết các điện thoại mà H bán là do trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, vào ngày 20/6/2024, Huỳnh Trung H có hành vi lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Fimex, màu đỏ, biển số 63B1-609.96 của anh Nguyễn Thành N1, sinh năm 1993, thường trú ấp M, xã H, huyện C. Theo bản kết luận định giá tài sản xảy ra ngày 30/8/2024: 01 xe mô tô hiệu Fimex số loại 110A, màu đỏ, biển số 63B1-609.96 xe mua cũ năm 2015 hiện còn 10% giá trị sử dụng có giá trị 250.000 đồng. Tuy nhiên, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Huỳnh Trung H không có tiền án, tiền sự về các tội chiếm đoạt tài sản và tài sản trộm trị giá 250.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng), do đó lần phạm tội này hành vi của H không cấu thành tội phạm.

Quá trình điều tra, Huỳnh Trung H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo H đã có tiền án chưa được xóa án tích, đã thực hiện 01 vụ cướp tài sản, 03 vụ cướp giật tài sản và 04 vụ trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” và “Phạm tội 02 lần trở lên”.

Tại Cáo trạng số 102/CT-VKSCB ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tuy tố Huỳnh Trung H về tội “Trộm cắp tài sản”, tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, tội “Cướp tài sản” tại điểm d khoản 2 Điều 168, tội “Cướp giật tài sản” tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đề nghị tuyên bố Huỳnh Trung H về tội “Trộm cắp tài sản”, tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, tội “Cướp tài sản” tại điểm d khoản 2 Điều 168, tội “Cướp giật tài sản” tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, xử phạt từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”; xử phạt từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; xử phạt từ 18 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ cho những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng những người này vắng mặt, tuy nhiên trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa Huỳnh Trung H thừa nhận: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/8/2023 đến ngày 23/6/2024, Huỳnh Trung H sử dụng vũ khí là bình xịt hơi cay thực hiện 01 vụ cướp tài sản của chị Đặng Thị Ngọc M chiếm đoạt số tiền 16.000.000 đồng; thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản của chị Nguyễn Thị Kim T1, chị Nguyễn Hồng H1 và chị Nguyễn Thị D tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 82.882.000 đồng; thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị D; anh Huỳnh Thanh T2, em Đỗ Tấn Đ; bà Trần Thị N; chị Phạm Hoàng O và chị Nguyễn Hoàng U tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 26.200.000 đồng. Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, truy tố Huỳnh Trung H về tội “Trộm cắp tài sản”, tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, tội “Cướp tài sản” tại điểm d khoản 2 Điều 168, tội “Cướp giật tài sản” tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, bị cáo không có ý kiến.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động bị cáo vẫn nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Mặc khác, bị cáo từng bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích bị cáo không biết ăn năn hối cải mà còn liên tục thực hiện trộm cắp tài sản, cướp và cướp giật tài sản, điều này chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng, ngừa tội phạm.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, đã thực hiện đã thực hiện 01 vụ cướp tài sản, 03 vụ cướp giật tài sản và 04 vụ trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 đôi dép màu đen, phía trên có chữ “ZX” phía đế dép có chữ “TRMARTENS” là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Nguyễn Thị Kim T1 yêu cầu bồi thường số tiền 28.782.000 đồng, chị Nguyễn Hồng H1 yêu cầu bồi thường số tiền 28.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị D yêu cầu bồi thường số tiền 28.602.000 đồng, ông Huỳnh Thanh T2 và anh Đỗ Tấn Đ yêu cầu bồi thường số tiền 6.800.000, bà Trần Thị N yêu cầu bồi thường số tiền 700.000 đồng, chị Đặng Thị Ngọc M yêu cầu bồi thường số tiền 16.000.000 đồng, chị Phạm Hoàng O và chị Nguyễn Hoàng U yêu cầu bồi thường số tiền 9.900.000 đồng, riêng 01 máy massage cầm tay màu xanh không rõ hiệu chị U không yêu cầu bị cáo bồi thường, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Ngoài ra, vào ngày 20/6/2024, Huỳnh Trung H có hành vi lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Fimex, màu đỏ, biển số 63B1-609.96 của anh Nguyễn Thành N1, sinh năm 1993, thường trú ấp M, xã H, huyện C. Theo bản kết luận định giá tài sản xảy ra ngày 30/8/2024: 01 xe mô tô hiệu Fimex số loại 110A, màu đỏ, biển số 63B1-609.96 xe mua cũ năm 2015 hiện còn 10% giá trị sử dụng có giá trị 250.000 đồng. Tuy nhiên, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Huỳnh Trung H không có tiền án, tiền sự về các tội chiếm đoạt tài sản và tài sản trộm trị giá 250.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng), do đó lần phạm tội này hành vi của H không cấu thành tội phạm.

[9] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.

[10] Bị cáo Huỳnh Trung H phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm c khoản 2 Điều 171, điểm khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trung H phạm tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Trung H 08 (T3) năm tù về tội “Cướp tài sản”, 05 (N2) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của ba tội buộc bị cáo Huỳnh Trung H phải chấp hành là 14 (Mười bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) đôi dép màu đen, phía trên có chữ “ZX”, phía đế dép có chữ “TRMARTENS”.

    (Vật chứng trên được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè theo Quyết định chuyển vật chứng số 70/QĐ-VKSCB ngày 29/11/2024 và BB về việc giao nhận vật chứng ngày 11/12/2024).

  3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim T1 số tiền 28.782.000₫ (Hai mươi tám triệu, bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng), bồi thường cho chị Nguyễn Hồng H1 số tiền 28.000.000₫ (Hai mươi tám triệu đồng), bồi thường cho chị Nguyễn Thị D số tiền 28.602.000₫ (Hai mươi tám triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn đồng), bồi thường cho ông Huỳnh Thanh T2 và anh Đỗ Tấn Đ số tiền 6.800.000₫ (Sáu triệu, tám trăm nghìn đồng), bồi thường cho bà Trần Thị N số tiền 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng), bồi thường cho chị Đặng Thị Ngọc M số tiền 16.000.000đ ( Mười sáu triệu đồng), bồi thường cho chị Phạm Hoàng O và chị Nguyễn Hoàng U số tiền 9.900.000đ (Chín triệu, chín trăm nghìn đồng.

    Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Kim T1, chị Nguyễn Hồng H1, chị Nguyễn Thị D, ông Huỳnh Thanh T2, anh Đỗ Tấn Đ, bà Trần Thị N, chị Đặng Thị Ngọc M, chị Phạm Hoàng O, chị Nguyễn Hoàng U có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Huỳnh Trung H chậm thi hành còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, tính theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Trung H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.939.000₫ (Năm triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CCTHADS Cái Bè;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Thảo Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trung Hậu phạm tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger