Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 03/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

+ Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Bạch Tuyết
  2. Bà Lê Thị Nga

+ Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 05 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Dương Thúy T (Tên gọi khác: L), sinh ngày: 19/8/1974; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 1 khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Đức O (đã chết); Con bà: Lý Kim H (đã chết); Chồng Nguyễn Thanh P, sinh năm 1972; Con: có 01 người sinh năm 1997; Anh, chị, em: có 06 người, lớn nhất sinh năm: 1967, nhỏ nhất sinh năm: 1977, bị cáo là con thứ 4.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/12/2024 đến nay.

  2. Lê Thị Bích V (Tên gọi khác: L1), sinh ngày 31/10/1980; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: B khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Văn S, sinh năm: Không rõ; Con bà Thái Thị L2, sinh năm: Không rõ; Chồng: Nguyễn Dương D, sinh năm: 1975; Con: Có 01 người, sinh năm 2006; Anh, chị, em: có 07 người, lớn nhất sinh năm: 1971, nhỏ nhất sinh năm 1982, bị cáo là con thứ 6.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/12/2024 đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lý Kim L3, sinh năm: 1983; địa chỉ: 2 khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Dương Thúy V1, sinh năm: 1972; địa chỉ: D khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • + Bà Hồ Thị Thúy T1, sinh năm: 1977; địa chỉ: H ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm: 1965; địa chỉ: 1 khu phố P, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • + Bà Lê Thị Đ, sinh năm: 1969; địa chỉ: B khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • + Ông Lê Hoàng T2, sinh năm: 1974; địa chỉ: 7 khu phố P, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Nhất T3, sinh năm: 1981; địa chỉ: 1 khu phố H, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Dương Thúy T không có nghề nghiệp ổn định, do cần tiền tiêu xài nên thực hiện hành vi bán các ô số đề thắng, thua bằng tiền để hưởng tiền hoa hồng. Khoảng 15 giờ hằng ngày, T đến nơi bán bánh khọt của bà Hồ Thị L4, địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, TP ., (cách nhà khoảng 20m) để thực hiện hành vi bán các ô số đề thắng, thua bằng tiền cho khách, khi khách muốn mua ô số đề thì đến trực tiếp gặp T để mua và T nhập số đã bán vào tin nhắn SMS trên điện thoại di động. Sau khi thực hiện xong hành vi bán các ô số đề, T đi về nhà tại địa chỉ 1 khu phố H, thị trấn C, huyện C, TP ., rồi giao lại cho Lê Thị Bích V, sinh năm: 1980, địa chỉ: B khu phố H, thị trấn C, huyện C, TP . bằng hình thức nhắn tin SMS qua điện thoại di động. Việc giao, nhận tiền mua bán ô số đề giữa T với khách và Lê Thị Bích V diễn ra trực tiếp.

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 22/11/2024, Công an thị trấn C nhận tin báo nên phối hợp với Đội CSĐTTP về Hình sự, Kinh tế, Môi trường Công an huyện C kiểm tra nhà Nguyễn Dương Thúy T. Vào thời điểm kiểm tra phát hiện Nguyễn Dương Thúy T đang sử dụng điện thoại di động để giao các ô số đề cho Lê Thị Bích V. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng có liên quan, đồng thời đưa Nguyễn Dương Thúy T về trụ sở làm việc. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Dương Thúy T khai nhận bắt đầu bán các ô số đề được khoảng 20 ngày thì bị phát hiện. Quá trình bán ô số đề cho khách T giao lại cho Lê Thị Bích V để hưởng tiền hoa hồng 03% trên tổng số tiền bán.

Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với Lê Thị Bích V và những người đã mua ô số đề. Qua điều tra xác định Lê Thị Bích V thực hiện hành vi tổ chức bán các ô số đề thắng, thua bằng tiền được khoảng 20 ngày thì bị phát hiện. Quá trình tổ chức bán các ô số đề thì chỉ nhận các ô số đề do Nguyễn Dương Thúy T giao, ngoài ra không nhận từ ai khác. Kết quả kiểm tra tin nhắn SMS trên điện thoại xác định được số tiền mua bán các ô số đề của Nguyễn Dương Thúy T vào các ngày 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22/11/2024 như sau:

  • - Ngày 15/11/2024 là: 3.910.000 đồng, trong đó số tiền bán cho khách và trực tiếp mua đài miền N là: 2.018.000 đồng, đài miền B là: 1.892.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số ngày 15/11/2024 trúng thưởng đài miền B với số tiền: 1.050.000 đồng, không trúng thưởng đài miền N. Vì vậy số tiền đánh bạc đài miền N là: 2.018.000 đồng, đài miền B là: 2.942.000 đồng;
  • - Ngày 16/11/2024 là: 5.508.000 đồng, trong đó số tiền bán cho khách và trực tiếp mua đài miền N là: 3.966.000 đồng, đài Miền B là: 1.542.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số ngày 16/11/2024 tổng cộng số tiền trúng thưởng là: 9.100.000 đồng, trong đó số tiền trúng thưởng đài miền N là: 6.100.000 đồng, trúng thưởng đài miền B là: 3.000.000 đồng, vì vậy số tiền đánh bạc của Nguyễn Dương Thúy T đài miền N là: 10.066.000đ, đài miền B là: 4.542.000 đồng.
  • - Ngày 17/11/2024 là: 5.628.000 đồng, trong đó số tiền bán cho khách và trực tiếp mua đài miền N là: 3.406.000 đồng, đài miền B là: 2.222.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số ngày 17/11/2024 không có trúng thưởng.
  • - Ngày 18/11/2024 là: 7.838.000 đồng, trong đó số tiền bán cho khách và trực tiếp mua đài miền N là: 4.562.000 đồng, đài miền B là: 3.276.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số ngày 18/11/2024 không có trúng thưởng;
  • - Ngày 19/11/2024 là: 3.467.000 đồng, trong đó số tiền bán cho khách và trực tiếp mua đài miền N là: 1.274.000 đồng, đài miền B là: 2.193.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số ngày 19/11/2024 trúng thưởng đài miền B với số tiền: 700.000 đồng, vì vậy số tiền đánh bạc đài miền N là: 1.274.000 đồng, đài miền B là: 2.893.000 đồng;
  • - Ngày 20/11/2024 là: 5.674.000 đồng, trong đó số tiền bán cho khách và trực tiếp mua đài miền N là: 3.382.000 đồng, đài miền B là: 2.292.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số ngày 20/11/2024 trúng thưởng đài miền B với số tiền: 1.400.000 đồng, vì vậy số tiền đánh bạc của Nguyễn Dương Thúy T đài miền N là: 3.382.000đ, đài miền B là: 3.692.000 đồng;
  • - Ngày 21/11/2024 là: 3.956.000 đồng, trong đó số tiền bán cho khách và trực tiếp mua đài miền N là: 2.555.000 đồng, đài miền B là: 1.401.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số ngày 21/11/2024 trúng thưởng đài miền N với số tiền: 350.000 đồng, vì vậy số tiền đánh bạc của Nguyễn Dương Thúy T đài miền N là: 2.905.000 đồng, đài miền B là: 1.401.000 đồng;
  • - Ngày 22/11/2024 là: 1.698.000 đồng. Thời điểm Cơ quan Công an vào kiểm tra phát hiện chưa có kết quả mở thưởng. Những người đã mua ô số đề gồm: Lê Thị Đ 180.000 đồng; Hồ Thị Thúy T1: 60.000 đồng; Nguyễn Dương Thúy V1 60.000 đồng; Lý Kim L3 240.000 đồng; Nguyễn Dương Thúy T 1.158.000 đồng.

Những người đã mua ô số đề gồm:

  1. Lý Kim L3 (C), sinh năm: 1983, nơi thường trú: 211/1 khu phố H, thị trấn C, huyện C, TP ..
  2. Nguyễn Dương Thúy V1, sinh năm: 1972, nơi thường trú: D khu phố H, thị trấn C, huyện C, TP ..
  3. Hồ Thị Thúy T1 (Q), sinh năm: 1977, nơi thường trú: 82A ấp H, xã L, huyện C, TP ..
  4. Nguyễn Thị P1 (C1), sinh năm: 1965, nơi thường trú: 129/1 khu phố P, thị trấn C, huyện C, TP .;
  5. Lê Thị Đ (L5), sinh năm: 1969, nơi thường trú: B khu phố H, thị trấn C, huyện C, TP ..
  6. Lê Hoàng T2 (N), sinh năm: 1974, nơi thường trú: 77/2 khu phố P, thị trấn C, huyện C, TP ..
  7. Nguyễn Nhất T3, sinh năm: 1981, nơi thường trú: 179/1 khu phố H, thị trấn C, huyện C, TP ..

Tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên không nhớ rõ những người nêu trên đã mua cụ thể ô số đề nào, số tiền mua cụ thể là bao nhiêu, đồng thời T cũng không nhớ rõ đã trực tiếp mua các ô số đề nào, số tiền mua là bao nhiêu. Riêng vào ngày 16/11/2024, do có nhiều người trúng thưởng nên để ý và nhớ chính xác, cụ thể như sau:

  • - L: Mua các ô số đề đài miền N với tổng số tiền: 600.000đ. Qua kiểm tra kết quả xổ số trúng thưởng số tiền là: 1.400.000 đồng.
  • - Nguyễn Dương Thúy V1: Mua các ô số đề đài miền N với tổng số tiền: 744.000 đồng, đài miền B số tiền: 120.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số V1 trúng thưởng được số tiền là: 3.000.000 đồng.
  • - Hồ Thị Thúy T1: Mua các ô số đề đài miền N với số tiền: 240.000 đồng, mua các ô số đề đài miền B với tổng số tiền: 120.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số xác định không trúng thưởng.
  • - Nguyễn Thị P1: Mua các ô số đề đài miền N với tổng số tiền: 410.000 đồng, mua các ô số đề đài miền B với tổng số tiền: 774.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số nhận thấy Phấn trúng thưởng đài miền B được số tiền là: 3.000.000 ba triệu đồng.
  • - Ngoài ra vào ngày 16/11/2024, Nguyễn Dương Thúy T trực tiếp mua các ô số đề đài miền N với tổng số tiền: 1.972.000 đồng, mua các ô số đề đài miền B với tổng số tiền: 528.000 đồng. Qua kiểm tra kết quả xổ số Tiên trúng thưởng đài miền N được số tiền là: 700.000 đồng, đài miền B không trúng thưởng.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-H.CG ngày 24 tháng 04 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Dương Thúy T và Lê Thị Bích V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Thúy T, Lê Thị Bích V mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đến 02 năm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

    Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với tang vật của vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Dương Thúy T đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức bán các ô số đề của đài miền N và miền B vào các ngày 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22/11/2024. Trong đó ngày 16/11/2024, Nguyễn Dương Thúy T đã bán và trực tiếp mua các ô số đề thẳng, thua bằng tiền đài miền N với tổng số tiền: 3.966.000đ, kết quả trúng thưởng với tổng số tiền 6.100.000đ, vì vậy số tiền đánh bạc của Nguyễn Dương Thúy T là 10.066.000đ, đã đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. Lê Thị Bích V có hành vi tổ chức bán các ô số đề thắng, thua bằng tiền dưới hình thức nhận ô số đề do Nguyễn Dương Thúy T giao. Do đó Lê Thị Bích V phải chịu chung trách nhiệm số tiền đánh bạc của Nguyễn Dương Thúy T ngày 16/11/2024 là: 10.066.000đ. Hành vi của Lê Thị Bích V chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc, nhưng tổng số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng, tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc, nhưng Lê Thị Bích V phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc. Hành vi của Nguyễn Dương Thúy T và Lê Thị Bích V đã đủ yếu tổ cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo Nguyễn Dương Thúy T và Lê Thị Bích V là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trị an tại địa phương; đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác; đồng thời gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình và sự phát triển xã hội. Hơn nữa, hành vi đánh bạc còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  5. Xét thấy các bị cáo Nguyễn Dương Thúy T, Lê Thị Bích V phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì chưa có vi phạm pháp luật nào khác, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, do đó không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
  6. Xử lý vật chứng và tiền thu lợi của các bị cáo: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + 01 (một) cái điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SamSung Galaxy A54 5G, màu xanh lá mạ đã qua sử dụng, là phương tiện mà Nguyễn Dương Thúy T sử dụng bán và giao các ô số đề cho Lê Thị Bích V xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

    Các vật chứng thu giữ bị cáo và người có liên quan tự nguyện giao nộp:

    • - Nguyễn Dương Thúy T: Tiền Việt Nam: 700.000 đồng (là số tiền trúng thưởng ô số đề ngày 16/11/2024) xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
    • - Lê Thị Bích V: 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng, kiểu máy: CPH2457, (là phương tiện Lê Thị Bích V sử dụng nhận các ô số đề do T giao qua tin nhắn SMS); Tiền Việt Nam: 5.408.000 đồng (là số tiền mà khách mua ô số đề vào ngày 16/11/2024) xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
    • - Lý Kim L3: Tiền Việt Nam: 1.400.000đ, (là số tiền mà L3 trúng thưởng ô số đề ngày 16/11/2024) xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
    • - Nguyễn Thị P1: Tiền Việt Nam: 3.000.000đ, (là số tiền mà Phấn trúng thưởng ô số đề ngày 16/11/2024) xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
    • - Nguyễn Dương Thúy V1: Tiền Việt Nam: 3.000.000đ, (là số tiền trúng thưởng ô số đề ngày 16/11/2024) xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

    Đối với số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo Nguyễn Dương Thúy T và Lê Thị Bích V:

    • - Bị cáo Nguyễn Dương Thúy T hưởng lợi 3% trên tổng số tiền mua bán ô số đề, cụ thể: ngày 15/11/2024: 3.910.000 đồng x 3% = 117.300đồng; ngày 16/11/2024: 5.508.000 đồng x 3% = 165.240 đồng; ngày 17/11/2024: 5.628.000 đồng x 3% = 168.840 đồng; ngày 18/11/2024: 7.838.000 đồng x 3% = 235.140 đồng; ngày 19/11/2024: 3.467.000 đồng x 3% = 104.010 đồng; ngày 20/11/2024: 5.674.000 đồng x 3% = 170.220 đồng; ngày 21/11/2024: 3.956.000 đồng x 3% = 118.680 đồng; ngày 22/11/2024: Chưa thu lợi. Tổng số tiền hoa hồng bị cáo T hưởng lợi: 1.079.430 đồng. Số tiền bị cáo T trúng thưởng ngày 16/11: 700.000 đồng, đã giao nộp 700.000 đồng. Do đó cần buộc bị cáo T phải nộp sung công quỹ Nhà nước 1.079.430 đồng.
    • - Bị cáo Lê Thị Bích V hưởng lợi số tiền từ nhận thầu ô số đề, cụ thể ngày 15/11/2024: 3.910.000 đồng – 117.300 đồng (3%) = 3.792.700 đồng; ngày 16/11/2024: 5.508.000 đồng – 165.240 đồng (3%) – 9.100.000 đồng (tiền trúng thưởng trả cho người mua) = -3.757.240 đồng; ngày 17/11/2024: 5.628.000đồng - 168.840 đồng (3%) = 5.459.160 đồng; ngày 18/11/2024: 7.838.000 đồng - 235.140 đồng (3%) = 7.602.860 đồng; ngày 19/11/2024: 3.467.000đồng – 104.010 đồng (3%) - 700.000 đồng (tiền trúng thưởng trả cho người mua) = 2.662.990đồng; ngày 20/11/2024: 5.674.000 đồng – 170.220 đồng (3%) – 1.400.000 đồng (tiền trúng thưởng trả cho người mua) = 4.103.780 đồng; ngày 21/11/2024: 3.956.000 – 118.680 (3%) – 350.000 đồng (tiền trúng thưởng trả cho người mua) = 3.487.320 đồng. Tổng cộng số tiền thu lợi của Lê Thị Bích V là: 23.351.570 đồng trừ đi số tiền bị cáo V đã nộp là: 5.408.000 đồng nên số tiền còn lại : 23.351.570 đồng – 5.408.000 đồng = 17.943.570 đồng. Do đó cần buộc bị cáo V phải nộp sung công quỹ Nhà nước 17.943.570 đồng.
  7. Đối với Lý Kim L3, Nguyễn Dương Thúy V1, Hồ Thị Thúy T1, Nguyễn Thị P1, Lê Thị Đ, Lê Hoàng T2, Nguyễn Nhất T3 có hành vi đánh bạc, nhưng số tiền dưới 5.000.000 đồng là chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định.

    Đối với bà Hồ Thị L4 không biết việc Nguyễn Dương Thúy T bán các ô số đề tại quán của mình nên chưa đủ cơ sở để xử lý là đúng quy định.

  8. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương Thúy T phạm tội “đánh bạc”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Thúy T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Dương Thúy T cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  2. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bích V phạm tội “đánh bạc”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Thị Bích V 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Lê Thị Bích V cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) cái điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SamSung Galaxy A54 5G, màu xanh lá mạ đã qua sử dụng; 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng, kiểu máy: CPH2457; Tiền Việt Nam: 13.508.000 đồng.

    Buộc bị cáo Nguyễn Dương Thúy T nộp số tiền 1.079.430 đồng.

    Buộc bị cáo Lê Thị Bích V nộp số tiền 17.943.570 đồng.

  4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo Nguyễn Dương Thúy T, Lê Thị Bích V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kê từ ngày nhận được bản sao bản án hợp lệ.
  6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Cần Giờ;
  • - UBND thị trấn Cần Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giờ;
  • - Sở Tư pháp TP HCM;
  • - Lưu HS, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger