Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-PT

Ngày: 27-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán:

  1. Bà Phạm Ngọc Giàu;
  2. Ông Nguyễn Văn Bình.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 02/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025. Đối với các bị cáo: Nguyễn Thái T, Nguyễn Thành H, Phạm Hồng T1.

Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thái T, Nguyễn Thành H, Phạm Hồng T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 19-12-2024, của tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Các bị cáo kháng cáo:

  1. Nguyễn Thái T, sinh ngày 05/12/2001 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 00 tháng 12 ngày); nơi sinh: tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S và bà Thái Thị Mỹ X; có vợ là Lê Thị Trà M và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2024 đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  2. Nguyễn Thành H, sinh ngày 04/10/2000; nơi sinh: tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị Mỹ T3; có vợ là Chu Thị Thảo H1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2024 đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  3. Phạm Hồng T1, sinh ngày 29/6/2001 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 05 tháng 18 ngày); nơi sinh: tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hoài Vĩnh P và bà Phạm Ngọc T4; có vợ là Nguyễn Thị Kim D và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2024 đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1999; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, tại ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, Bùi Hữu Ý, sinh ngày 02/02/2004, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đang uống nước cùng với Nguyễn Thái T, Phạm Hồng T1 và Nguyễn Thành H, Ý thấy anh Huỳnh Quang T5, sinh năm 2000, nơi cư trú: ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh điều khiển xe mô tô đi đến, Ý nhớ lại trước đó đã xảy ra cự cãi trong lúc chơi bóng chuyền nên quay sang nói với T giúp Ý đánh anh T5, nói xong Ý đứng dậy dùng tay đánh vào người anh T5 không gây thương tích, T chạy đến dùng chân đạp ngã xe của anh T5, thấy vậy anh T5 bỏ chạy. Sau đó Ý đi về nhà, T, T1 và H đi đến quán Internet “Cây Da” cùng địa chỉ do chị Phạm Thị Thanh T6, sinh năm 1974 làm chủ để chơi game và uống nước, anh T5 quay lại lấy xe thì gặp anh Nguyễn Văn N đi chích cá về ngang và kể lại sự việc bị nhóm của Ý đánh, N kêu T5 cùng đi tìm nhóm của Ý để đánh lại nhưng T5 không đi, N điều khiển xe mô tô một mình đi tìm nhóm của Ý nhưng không gặp.

Trong lúc T đang chơi game, T1 và H đang uống nước thì T nghe có người nói N đang đi tìm nhóm của T, nghe thấy vậy T đi xuống bếp của quán Internet lấy 01 cây dao xếp, cán nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại giấu trong lưng quần rồi đi ra nói với T1 và H “N đang đi tìm tụi mình kìa” sau đó điều khiển xe một mình đi tìm N, thấy vậy H điều khiển xe mô tô chở T1 đi theo T để đi tìm N, khi thấy N, T xuống xe đứng trước mặt và hỏi Nghĩa lý D1 tại sao đi tìm nhóm của T, N đang cầm trên tay 02 cần chích cá hỏi lại “Tại sao lại đánh T5” thấy N cầm cần chích cá T1 nhặt 01 vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh ở ven đường và tháo nón bảo hiểm đang đội trên đầu xuống làm hung khí đứng cạnh T, H nhặt 01 khúc củi ở đống củi bên đường làm hung khí đứng phía sau lưng của N, cùng lúc T lấy dao xếp đã chuẩn bị sẵn cầm trên tay phải lao vào đâm N nhiều nhát, trong đó có 01 nhát trúng vào khuỷu tay phải, 01 nhát trúng ngực trái làm tràn khí màng phổi trái, 01 nhát trúng bả vai trái. Thấy N bị đâm và bỏ chạy nên T1 và H không vào đánh, N được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị. Ngày 02/01/2019 N làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T cùng đồng phạm. Ngày 29/4/2024, Nguyễn Thái T ra đầu thú.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 71/2019/TgT ngày 03/4/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn N tại thời điểm giám định là 13%; thương tích bờ sắc gọn phù hợp do vật sắc gây ra; cơ chế hình thành thương tích trực tiếp.

Tại bản án hình sự sơ thẩm 38/2024/HS-ST ngày 19-12-2024, của tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, Quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thái T, Nguyễn Thành H, Phạm Hồng T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”

1.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thái T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

1.2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

1.3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Hồng T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về bồi thường thiệt hại, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 24-12-2024, bị cáo Nguyễn Thái T, bị cáo Phạm Hồng T1, Nguyễn Thành H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập với xã hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo T, H, T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa trình bày quan điểm xử lý vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo các bị cáo: Nguyễn Thái T, Nguyễn Thành H, Phạm Hồng T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội các bị cáo gây ra cho bị hại, không nặng. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các bị cáo không trình bày tranh luận

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo T trình bày: Xin hội đồng xét xử cho bị cáo nhẹ để bị cáo sớm về nuôi vợ con, bị cáo đang ở nhà thuê.

Bị cáo H trình bày: Xin hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt để bị cáo ở nhà nuôi con.

Bị cáo T1 trình bày: Xin hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt để bị cáo ở nhà nuôi con. Con bị cáo còn nhỏ mới 02 tháng tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tòa án nhân dân Thành Phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử, tuyên án đối với các bị cáo Nguyễn Thái T, Nguyễn Thành H, Phạm Hồng T1 vào ngày 19-12-2024; ngày 24-12-2024, các bị cáo T, bị cáo H, bị cáo T1 có đơn kháng cáo; đơn kháng cáo của các bị cáo phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên hợp pháp.

[3] Về hành vi của các bị cáo thực hiện: vào ngày 17/12/2018, tại ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, do biết Nguyễn Văn N đang đi tìm đánh nhóm của Nguyễn Thái T, Nguyễn Thái T đã chuẩn bị 01 cây dao xếp, cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm, cùng với Phạm Hồng T1 và Nguyễn Thành H đi tìm N, khi tìm được N, T1 nhặt 01 vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh ở ven đường và tháo nón bảo hiểm đang đội trên đầu xuống cầm trên hai tay đứng cạnh T, H nhặt 01 khúc củi ở đống củi bên đường và tiến đến đứng phía sau lưng của N, T lấy dao xếp cầm trên tay phải đâm vào khuỷu tay phải, vào ngực trái và vai trái của N gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%.

Do đó, cấp sơ thẩm xử các bị cáo Nguyễn Thái T, Nguyễn Thành H và Phạm Hồng T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[4] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[5] Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:

[5.1] Đối với bị cáo T: Bị cáo Nguyễn Thái T là người rủ rê các bị cáo H và bị cáo T1 cùng thực hiện hành vi phạm tội, là người chuẩn bị 01 cây dao xếp, trực tiếp sử dụng 01 cây dao xếp đâm bị hại 03 cái gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Vì vậy, bị cáo T giữ vai trò chính trong vụ án. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm có xem xét tính chấp mức độ hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ hình phạt và khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên nên xử bị cáo 01 năm tù là không nặng. Bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5.2] Đối với bị cáo Nguyễn Thành H, Phạm Hồng T1: Các bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức về tinh thần cho bị cáo T nên vai trò của của bị cáo H và bị cáo T1 không đáng kể. Thương tích của bị hại Nghĩa là do bị cáo T gây ra. Khi bị cáo T lấy dao trong quán bỏ trong người để gặp bị hại, bị cáo H và bị cáo T1 không biết. Bị cáo H và bị cáo T1 đến gặp bị hại để nói chuyện giải hòa không có mang hung khí để tấn công bị hại N khi gặp bị hại N thì bị cáo T1 nói chuyện, khi đó, bị hại N đang cầm trên tay 02 cần chích cá hỏi “Tại sao lại đánh T5” thấy N cầm cần chích cá T1 nhặt 01 vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh ở ven đường và tháo nón bảo hiểm đang đội trên đầu xuống. H nhặt 01 khúc củi ở đống củi. Bị cáo T đâm bị hại thì cả bị cáo H và bị cáo T1 bỏ về.

[5.3] Xét thấy, bị cáo H và bị cáo T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; hai bị cáo không thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T1 chưa thành niên, hai bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho hai bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[6] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo T, chấp nhận kháng cáo của bị cáo H và bị cáo T1; chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên, sửa bản án hình sự sơ thẩm.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thái T phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo H và bị cáo T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành Phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

1.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thái T 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

1.2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thành H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Hồng T1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phạm Hồng T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành H và bị cáo Phạm Hồng T1 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thái T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí phúc thẩm hình sự.

  1. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thành phố Tây Ninh;
  • - Công an thành phố Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Tây Ninh;
  • - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 19/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger